|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2025/HS-PT Ngày: 27 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang
Các thẩm phán: Bà Lưu Thị Thu Hường và ông Trần Duy Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Tài – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLPT-HS ngày 13/01/2025 đối với bị cáo Trần Quang H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Quang H, sinh ngày: 18/5/1990, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn Đ (sinh năm 1959) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1954); vợ: H Liêm N (sinh năm 1993); con: Có 3 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2020);
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 172/2009/HS-PT ngày 19/6/2009, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Anh Đậu Trần H1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 17/7/2024, Trần Quang H cùng với Đậu T, Nguyễn Thái T1, Dương Quốc Đ1, Trần Văn A, Nguyễn Văn T2, Tạ Tấn Đ2 và một số người khác đến nhà anh Phan Đình D, ở thôn T xã E uống rượu. Tại đây, H, H1, A, Đ1, T2 và Đ2 rủ nhau chơi bài, thắng thua, tính điểm để mua bia và mồi nhậu. Quá trình chơi bài giữa T2 và H có xảy ra cãi vã nhau; trong lúc H và T2 cãi nhau thì T1 có dùng chân đá T2 01 cái. Sau đó, H đi về nhà rồi rủ anh D, Y Sen M, Y Vol M1 và Phan Thanh L đến nhà Y Tơ Nin M2 uống rượu tiếp.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, Đậu T, Đ1, T2 và A cùng nhau đến nhà Y Tơ N1 Mlô ngồi uống rượu cùng với nhóm của H. Trong lúc uống rượu, Đ1 lấy 01 con dao (loại dao thái lan) trong túi quần ra để trên chiếu thì anh D nói với Đ1 cất dao, nên Đ1 bỏ con dao ra phía sau lưng. Trong quá trình uống rượu, H và T2 nói chuyện giải hòa với nhau về sự việc xích mích giữa T1 và T2 lúc chiều thì A ngồi bên chửi tục H, do A chửi tục nên H dùng chân đạp vào người A một cái rồi đi vào phòng bếp nhà Y Tơ N1 Mlô lấy 01 con dao; anh Y MiRin Mlô (em trai của Y Tơ Nin M2) và Đ1 thấy vậy chạy vào can ngăn H. Do bực tức về việc H đánh A là bạn của H1, nên H1 lấy con dao của Đại để ở chiếu đi vào phòng bếp để đánh H. Tại đây, giữa H1 và H đánh nhau qua lại: H1 dùng dao đâm H trúng vào tay, ngực, bụng; còn H dùng dao chém lại H1 trúng vào tay và đầu. Hậu quả, H bị thương tích tỷ lệ thương tật 05% và H1 bị thương tích tỷ lệ thương tật 12%.
Tại Bản kết luận giám định số: 666/KLTTCT-PY ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đậu Trần H1 tại thời điểm giám định là 12%.
Tại Bản kết luận giám định số: 667/KLTTCT-PY ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ đã kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Quang H tại thời điểm giám định là 5%.
- Vật chứng vụ án thu giữ, gồm:
- + 01 con dao thái lan màu vàng kích thước (10x20)cm, trên cán dao có dán tem có dòng chữ “KIWI”, 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng, kích thước (12x1,8)cm, mũi nhọn, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng sáng.
- + 01 con dao, loại dao chặt, có tổng chiều dài 28,5cm, lưỡi dao bằng kim loại có chiều dài 17cm, phần rộng nhất ở phần lưỡi dao 09cm, phần nhỏ nhất lưỡi dao ở phần cán dao 08cm; cán dao được bọc cao su màu đen có chiều dài 11,5cm.
- + 01 cây gậy gỗ tròn, dài 1,6m, đường kính đầu lớn nhất 4,2cm; đường kính đầu nhỏ nhất 03cm.
- + 01 cây kiếm, có đặc điểm: lưỡi kiếm bằng kim loại, dài 48cm, một đầu nhọn, bản lưỡi kiếm nơi rộng nhất là 4,5cm, gần giữa lưỡi có một khe hở; cán dài 21cm, bằng gỗ màu nâu, hai phần đầu cán có bọc khuy tròn bằng kim loại màu vàng.
- Phần trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo và bị hại đã tự nguyện thoả thuận với nhau về mức bồi thường, theo đó bị cáo H đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng; bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Quang H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/12/2024, bị cáo Trần Quang H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt đối với bị cáo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Trần Quang H không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quang H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ ngày 17/7/2024, tại nhà Y Tơ Nin M2, thuộc Buôn K, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do trong lúc uống rượu nhóm của H và nhóm của H1 có xảy ra mâu thuẫn, nên Đậu Trần H1 và Trần Quang H đã có hành vi dùng dao đâm, chém nhau qua lại. H1 dùng dao đâm H và H dùng dao chém H1. Hậu quả, H bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 05%; H1 bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Quang H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng, sau khi phạm tội, bị cáo biết ăn năn hối hận, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và được bị hại có đơn bãi nại đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo sớm trở thành công dân sống có ích, biết tuân thủ pháp luật.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Trần Quang H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Quang H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2024/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk về phần hình phạt đối với bị cáo.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Quang H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Quang H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
4
Bản án số 44/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 44/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
