Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày 03/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Vượng, ông Đào Ngọc Khải

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 03/4/2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 20/03/2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 24/3/2025 đối với:

Bị cáo:

Họ và tên: Lê Đại D, sinh năm 1985, tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (đã chết) và bà Trần Thị Lan H1; vợ: Vũ Thị H2 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2012;

Tiền án: Bản án số 58/2019/HSST ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 26/8/2020;

Nhân thân: Ngày 04/10/2007 bị Công an tỉnh H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; ngày 19/8/2012 bị Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ 18/01/2025; có mặt tại phiên tòa.

Những người làm chứng:

- Anh Phan Quyết T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với động cơ vụ lợi, từ khoảng cuối tháng 9/2020 đến ngày 20/3/2021, Lê Đại D đã tham gia đánh bạc trực tuyến trên trang web W88.vin thông qua việc mua bán điểm tiền ảo để chơi các trò chơi như nổ hũ, tài xỉu, quay hũ, bắn cá. D sử dụng điện thoại iPhone 6 để tạo tài khoản game với tên nhân vật “Jbon0470” (mật khẩu “12345678”) và thực hiện các giao dịch mua bán điểm với Vũ Huy H3 – một đại lý cấp 2 của đại lý cấp 1 Topgame 6868. Lê Đại D không giữ vai trò tổ chức đánh bạc mà chỉ tham gia với tư cách người chơi.

Cụ thể, D liên hệ với Vũ Huy H3 để mua điểm tiền ảo với giá 850.000 đồng/1.000.000 điểm nhằm tham gia đánh bạc. Khi thắng, D bán lại điểm cho H3 với giá 800.000 đồng/1.000.000 điểm để quy đổi thành tiền Việt Nam. Các giao dịch được thực hiện qua tài khoản ngân hàng V1 (mang tên Lê Đại D) và tài khoản V1 số [...] (mang tên Vũ Huy H3), sử dụng dịch vụ Internet Banking và Mobile B. Từ ngày 27/9/2020 đến 20/3/2021, D đã thực hiện tổng cộng 318 giao dịch mua bán điểm với H3, với tổng số tiền giao dịch là 355.190.000 đồng. Trong đó:

  • - Số tiền mua điểm: 110.410.000 đồng.
  • - Số tiền bán điểm: 244.780.000 đồng.
  • - Có 10 giao dịch trên 5 triệu đồng và 1 giao dịch trên 50 triệu đồng.

Hành vi của Lê Đại D là tham gia đánh bạc trực tuyến, sử dụng điểm tiền ảo được mua bán và quy đổi thành tiền thật thông qua các giao dịch ngân hàng. Tổng số tiền giao dịch của D tuy chiếm một phần nhỏ trong tổng số tiền 28.072.160.400 đồng mà Vũ Huy H3, Hà Thị Yến N1 và đồng phạm tổ chức đánh bạc, nhưng vẫn cấu thành tội phạm. Riêng D không thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc mà chỉ tham gia chơi và hưởng lợi từ các lần thắng cược, với số tiền chênh lệch giữa mua và bán điểm là 134.370.000 đồng (244.780.000 đồng - 110.410.000 đồng).

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Lê Đại D bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã ban hành Quyết định truy nã số 02 và Quyết định tách vụ án hình sự số 02 ngày 26/07/2022. Đến ngày 18/01/2025, D bị bắt giữ theo Quyết định truy nã. Tại cơ quan điều tra, Lê Đại D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Đối với các giao dịch giữa Lê Đại D và Đào Văn N2 (qua tài khoản T1 số 10934586194014 mang tên N2), quá trình điều tra xác định đây là giao dịch cá nhân, không liên quan đến hoạt động đánh bạc nên không đủ căn cứ để xử lý Nên trong vụ án này.

Các đồng phạm khác là Vũ Huy H3, Hà Thị Yến N1, Nguyễn Hà V, Vũ Thị H4 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử tại Bản án số 78/2022/HS-ST ngày 30/09/2022 về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc (với mức án lần lượt là: H3 6 năm tù, Yến N1 3 năm tù treo, Hà V 3 năm tù, H4 3 năm tù).

2

Cáo trạng số 49/CT-VKS-P2 ngày 20/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố Lê Đại D về tội Đánh bạc theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, dựa trên các yếu tố: Số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng và sử dụng mạng Internet để phạm tội.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Lê Đại D phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Đại D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 18/01/2025. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị xử lý về biện pháp tư pháp và án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thành khẩn nhận tội, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Đủ cơ sở kết luận: Với động cơ, mục đích vụ lợi, trong khoảng thời gian từ ngày 27/9/2020 đến ngày 20/3/2021, Lê Đại D đã sử dụng mạng internet để đánh bạc, thực hiện 318 giao dịch mua bán điểm với tổng số tiền là 355.190.000 đồng, trong đó có 10 giao dịch trên 5.000.000 đồng và 01 giao dịch trên 50.000.000 đồng, D được hưởng lợi số tiền 134.370.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Đánh bạc theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

3

Hưng Yên giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng và an toàn xã hội. Lợi dụng sơ hở trong quản lý kinh doanh trên mạng Internet, bị cáo đã tham gia đánh bạc với nhiều đối tượng khác trên mạng xã hội, sát phạt bằng tiền với số lượng lớn, gây mất ổn định xã hội, thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhiều gia đình, bao gồm cả gia đình các bị cáo. Dù nhận thức rõ tác hại của hành vi này, bị cáo vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi. Do đó, cần xử lý nghiêm minh, áp dụng hình phạt phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi đánh bạc, các lần đánh bạc đều đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo từng bị kết án về hành vi phạm tội, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phạm tội từ hai lần trở lên và tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có thân nhân (ông) là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có bản án chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới với lỗi cố ý.

[4] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội như nội dung đã đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo không có thu nhập và công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[5] Về biện pháp tư pháp:

Số tiền 134.370.000 đồng là tiền bị cáo thu lời bất chính từ hành vi phạm tội nên cần truy thu sung vào ngân sách Nhà nước.

4

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Đại D phạm tội Đánh bạc.

    Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Đại D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/01/2025.

  2. Về biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Lê Đại D số tiền 134.370.000 đồng (Một trăm ba tư triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng) do phạm tội mà có, sung vào ngân sách Nhà nước.
  3. Về án phí: Bị cáo Lê Đại D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP, THS(Th).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Phượng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về đánh bạc

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/9/2020 đến ngày 20/3/2021, Lê Đại D đã sử dụng mạng internet để đánh bạc, thực hiện 318 giao dịch mua bán điểm với tổng số tiền là 355.190.000 đồng, trong đó có 10 giao dịch trên 5.000.000 đồng và 01 giao dịch trên 50.000.000 đồng, D được hưởng lợi số tiền 134.370.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger