Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ M

TỈNH H

Bản án số: 44/2025/HSST.

Ngày: 25/3/2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Hền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Khải và ông Phan Xuân Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khá – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã M, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trọng H- Sinh năm 1993 tại tỉnh H; Nơi thường trú: Thôn Ph, xã B, Hện Â, tỉnh H; Nơi ở hiện tại: Thôn T, xã Tr, Hện Y, tỉnh H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Trọng Ph; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 15/11/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Khai báo gian dối. Đã chấp hành xong bản án.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024, tạm giam từ ngày 09/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên toà)

  2. Nguyễn Ngọc D- Sinh năm 1987 tại tỉnh H; Nơi thường trú: Tổ dân phố Tr, phường D, thị xã M, tỉnh H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Ngọc H; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Ch; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024, tạm giam ngày 09/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh H phân trại khu vực M. (Có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Trọng Ph - Sinh năm 1962 (Có mặt) Địa chỉ: Thôn Ph, xã B, Hện Â, tỉnh H.
  2. Anh Nguyễn Ngọc T – Sinh năm 1986 (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường D, thị xã M, tỉnh H
  3. Anh Vũ Đình Th – Sinh năm 1998(Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn H, xã Ph, Hện Â, tỉnh H.
  4. Anh Vũ Văn Q – Sinh năm: 1990(Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố R, phường D, thị xã M, tỉnh H

* Người làm chứng:

  1. Anh Lò Văn Đ – Sinh năm 1998 (Vắng mặt) Địa chỉ: Xóm C, xã C, Hện M, tỉnh H
  2. Anh Nguyễn Minh Đ - Sinh năm 1996 (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T 1, xã Đ, Hện D, tỉnh L
  3. Ông Nguyễn Ngọc H – Sinh năm 1962 (Có mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Tr, phường D, thị xã M, tỉnh H
  4. Anh Nguyễn Khánh Th – Sinh năm 1981(Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Ph, thị xã M, tỉnh H.
  5. Ông Nguyễn Việt Kh – Sinh năm 1961(Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Ng, phường Ph, thị xã M, tỉnh H.
  6. Chị Nguyễn Thị Ph – Sinh năm 2001(Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã Tr, Hện Y, tỉnh H
  7. Anh Đinh Văn Q – Sinh năm 1997(Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn N, xã Ph, Hện Ngh, tỉnh Y
  8. Ông Phạm Sĩ H – Sinh năm 1960(Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường D, thị xã M, tỉnh H
  9. Chị Phùng Thị Ch – Sinh năm 1987(Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường B, thị xã M, tỉnh H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 01/6/2024, Vũ Đình Th gọi điện cho Nguyễn Trọng H hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý. Th chuyển khoản cho H số tiền 400.000 đồng vào tài khoản ngân hàng. H cầm 01 gói ma túy từ phòng trọ để ở một cột mốc ven đường Phạm Ngũ Lão thuộc Tổ dân phố T, phường Ph. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, theo chỉ dẫn của H thì Th đến vị trí nhặt gói ma túy đem bán cho Vũ Đình Quyền tại khu vực ngã ba năm thuộc Tổ dân phố T, phường Ph, thị xã M. Sau khi mua được ma túy thì Quyền bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phát hiện bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 0,369g Methamphetamine để sử dụng.

Khoảng 17 giờ ngày 03/10/2024, Nguyễn Ngọc D sử dụng điện thoại gọi cho H hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý. H cầm 01 gói ma túy từ phòng trọ rồi điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh, biển số 89F1-551.28 đi đến khu vực bãi rác thôn Đống Thanh, xã Hưng Long. H để gói ma túy ở rìa đường, gần gốc cây Nhãn rồi đọc số tài khoản 0974970604 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Ph Đông (OCB) mang tên Vũ Văn Quang thì D chuyển 700.000 đồng (gồm 500.000 đồng tiền mua ma túy và 200.000 đồng tiền D nợ H từ trước) vào tài khoản Vũ Văn Quang. D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Detech biển số 89H4-5392 đến vị trí như H chỉ dẫn lấy gói ma túy cất vào túi quần phía trước bên trái và điều khiển xe mô tô trên đi đến nhà nghỉ Hướng Kh thuộc Tổ dân phố Ng, phường Ph, thị xã M với mục đích sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Thu tại túi quần phía trước bên trái của D 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy bạc có 01 túi nilon dạng túi Zip màu trắng, viền màu đỏ bên trong túi này chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục, bột được niêm phong ký hiệu A. Quản lý của D 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, được lắp 01 sim; 01 xe mô tô nhãn hiệu Detech, loại Dream, màu tím, biển số 89H4-5392.

Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã tiến hành khám xét chỗ ở của D, H kết quả không thu giữ gì.

Ngày 03/10/2024, Nguyễn Trọng H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đầu thú khai nhận hành vi ngày 01/6/2024 và ngày 03/10/2024 đã bán trái phép ma túy cho Th và D đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen được nắp sim; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu vàng bên trong lắp 01 sim, 01 điện thoại Iphone 6s màu xám, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xanh, loại Exciter biển số 89F1-55128.

Kết quả xét nghiệm sinh hóa xác định D, H đều D tính với Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 637/KL-KTHS(MT) ngày 06/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu A có khối lượng là 0,235g (Không phảy hai ba năm gam) là ma túy, loại: Methamphetamine. Hoàn lại 0,216g ma túy, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo H đã tác động gia đình nộp số tiền 900.000 đồng tiền thu lợi bất chính do bán ma túy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Detech biển số 89H4-5392 của anh Nguyễn Ngọc T là anh trai của D. Anh T không biết D sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy. Ngày 25/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh T.

H khai nhận nguồn gốc số ma tuý bán cho D là do H mua của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực chợ gạo, thành phố H với giá 400.000 đồng. Số ma tuý bán cho Th là do H mua của một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ ở khu vực Quán Gỏi, Hện Bình Giang, tỉnh Hải D) với giá 300.000 đồng ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ truy tìm, xử lý.

Trước đó H có sử dụng ma túy nhưng không nhớ thời gian địa điểm, ngoài lời khai không còn tài liệu chứng cứ gì khác nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý.

D khai ngày 26/9/2024, D mua ma túy đá của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại đường Quốc lộ 5A thuộc địa phận phường Phùng Chí Kiên, thị xã M, tỉnh H rồi mang ra cánh đồng thuộc phường Phùng Chí Kiên, thị xã M sử dụng hết. Công an thị xã M đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D.

Bản cáo trạng số: 48/CT-VKSMH ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Nguyễn Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Ph không yêu cầu đề nghị gì.

Đại diện VKS thị xã M đề nghị HĐXX : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo H từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2024.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo D từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về vật chứng, án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã M và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

[2]- Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, sao kê tài khoản ngân hàng; Phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, cùng các tài liệu có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: Vào các ngày 01/6/2024 và ngày 03/10/2024 tại Tổ dân phố T, phường Ph, thị xã M, tỉnh H và khu vực bãi rác thôn Đống Thanh, xã Hưng Long, thị xã M, tỉnh H, Nguyễn Trọng H đã 02 lần có hành vi bán trái phép 0,369gam ma túy, loại Methamphetamine cho Vũ Đình Th lấy số tiền 400.000 đồng và 0,235gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Ngọc D lấy số tiền 500.000 đồng. D đã cất giấu trái phép 0,235gam ma túy loại Methamphetamine tại túi quần phía trước bên trái mục đích để sử dụng, khi đi đến nhà nghỉ Hướng Kh thuộc Tổ dân phố Ng, phường Ph, thị xã M thì bị phát hiện bắt quả tang. Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, Nguyễn Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi bán trái phép chất ma túy của Th và tàng trữ trái phép chất ma túy của Quyền đã bị Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H xét xử sơ thẩm vào ngày 27/11/2024.

[3]- Hành vi của các bị cáo H, D là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý được luật hình sự bảo vệ, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều biết rõ tác hại của ma tuý không những gây cảnh nghiện ngập làm cho kinh tế gia đình kiệt quệ, hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa Ph và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội. Nhưng bị cáo H vì mục đích tư lợi cá nhân, kiếm lời từ việc bán ma tuý cho các con nghiện khác còn bị cáo D chỉ vì mục đích thoả mãn nhu cầu sử dụng của bản thân mà các bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo H có nhân thân xấu : Ngày 15/11/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Khai báo gian dối” bị cáo không lấy làm bài học cho mình mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chất, loại tội, mức độ hành vi của các bị cáo đã thực hiện, nhằm tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và làm bài học cho các hành vi khác tương tự có thể xảy ra.

[4]- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

  • Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo H ra đầu thú và tự nguyện giao nộp khoản tiền thu lời bất chính; bị cáo D có bố đẻ được tặng thưởng H chương chiến sỹ vẻ vang nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] -Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định các bị cáo không có tài sản riêng nên hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 0,216g ma tuý loại Methamphetamine hoàn lại mẫu vật sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định sẽ cho tịch thu tiêu huỷ.
  • Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu vàng, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen và 01 điện thoại OPPO màu xanh đen tím là các tài sản các bị cáo liên lạc phạm tội nên sẽ tịch thu sung quỹ nhà nước và tiêu huỷ 03 sim điện thoại.
  • 01 điện thoại Iphone 6s màu xám của bị cáo H không sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo có nhu cầu nhận lại nên sẽ trả lại cho bị cáo.
  • Số tiền 900.000₫ bị cáo H tác động gia đình nộp do thu lời bất chính và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 89F1- 55128 dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ cho tịch thu sung quĩ nhà nước.

[6]- Các vấn đề khác: Đối với số tài khoản 0974970604 mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Ph Đông (OCB) mang tên Vu Van Quang xác định số tài khoản trên là của anh Vũ Văn Quang cho H mượn để sử dụng và không biết H dùng tài khoản trên để mua bán ma túy nên chưa có căn cứ xử lý đối với Quang là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • * Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng H.

    Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc D.

  • *Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng H 07 (Bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2024.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2024.

  • * Vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47; khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 89F1- 55128, số khung RLCUG1210MY031760, số máy G3M5E – 040970; 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu vàng, số serial F2LFP3840D49; 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen số serial: DNQTQGPQHG7F; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh đen tím số IMEI1: 865566043936297, số IMEI2: 865566043936289 và số tiền 900.000₫ (Chín trăm nghìn đồng) theo uỷ nhiệm chi ngày 12/3/2025.
    • - Trả lại bị cáo H 01 điện thoại Iphone 6s màu xám
    • -Tịch thu tiêu huỷ: 01 mẫu hoàn lại sau giám định ghi số 637/KL – KTHS(MT) của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh H bên trong có 0,216g ma tuý loại Methamphetamine trong niêm phong ghi ký hiệu A, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định và 03 sim điện thoại.

    (Tình trạng đặc điểm các vật chứng được mô tả theo và quyết định chuyển vật chứng ngày 28/02/2025 biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2025 tại chi cục Thi hành án dân sự thị xã M).

  • * Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Trọng H và Nguyễn Ngọc D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • * Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã M;
  • - Cơ quan CSĐT -CA tỉnh H;
  • - Cơ quan T.H.A HS-CA tỉnh H;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã M;
  • - Phòng KTNV và T.H.A - Tòa án tỉnh H;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Tân Hền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huy, Dương - MBMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger