Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HSST

Ngày: 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Ông Nguyễn Văn Cát

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST - HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 2006 tại Vĩnh Phúc; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B, con bà: Đỗ Thị L. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Trần Bình P, sinh năm 2006. HKTT: Khu phố B, phường A, TP P, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện nay: số 112 TT1 khu đô thị V, phường P, quận H, Hà Nội. (Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05/12/2024, tại phòng trọ số 305-BT2-04 KĐT V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của anh Trần Bình P, là người ở cùng phòng trọ, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Trần Bình P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 1:358281861978751; số Imei 2: 358281861885492, trị giá 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng). Sau khi lấy được điện thoại của anh P, T mang đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại “Đức Mạnh M” tại xóm H, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội bán cho chị Ngô Thị V được 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng). Cùng ngày 05/12/2024, anh Trần Bình P đến Công an phường P trình báo vụ việc. Đến ngày 06/12/2024, Nguyễn Văn T ra đầu thú tại Công an phường P, H, Hà Nội và khai nhận nội dung sự việc như trên.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 1: 358281861978751, số Imei 2: 358281861885492.
  • - Số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) do Nguyễn Văn T giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 189/KL-HDDGTS ngày 06/12/2024, của Hội đồng định giá trong tố tụng quận H, kết luận: Giá trị tài sản 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, dung lượng 128GB, số Imei 1: 358281861978751;số Imei 2: 358281861885492 là 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng).

Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T như sau:

Khoảng tháng 11 năm 2024, Nguyễn Văn T thuê trọ tại phòng trọ số 305BT2-04 KĐT V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, cùng phòng trọ với T có anh Trần Bình P, sinh năm 2006, HKTT: Khu phố B, phường A, TP P, tỉnh Kiên Giang (đều là sinh viên trường Đại học Đ).

Khoảng 05 giờ sáng ngày 05/12/2024, Nguyễn Văn T nhìn thấy anh Trần Bình P đang ngủ, anh P để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím ở dưới gối. Do chưa có tiền sinh hoạt, T nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại của anh P. T lấy điện thoại của anh P rồi mở điện thoại, xóa chức năng bảo mật và phần mềm nhận diện khuôn mặt (Fece ID) sau đó tắt nguồn, tháo ốp điện thoại để ở giường, còn điện thoại T để vào cặp sách của T sau đó T đi đánh răng, rửa mặt. Đến khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày T gọi anh P dậy và nói với anh P “dậy đưa tôi đi học", lúc này T giả vờ bị mất điện thoại và nhờ anh P tìm hộ, nghe T nói như vậy, anh P cũng tìm điện thoại của anh P nhưng không thấy, đến khoảng 07 giờ 20 phút T cầm cặp sách rồi mượn xe máy của anh P để đi học. T điều khiển xe máy đi lên khu vực huyện M, thành phố Hà Nội để bán điện thoại trộm cắp được. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, T đi đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện

thoại “Đức Mạnh M” do anh Nguyễn Văn M1 là chủ cửa hàng tại xóm H, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, T gặp chị Ngô Thị V sinh năm 1997 là vợ của anh Nguyễn Văn M1 và bán chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím mà T trộm cắp được của anh P với giá 16.000.000 đồng. Chị V chuyển 16.000.000 đồng từ số tài khoản 19034760986014 mang tên NGO THI VAN tại ngân hàng T1 đến số tài khoản 1049172454 mang tên NGUYEN VAN TRUONG tại ngân hàng V1, sau khi nhận tiền T đi về phòng trọ. Chị V không biết điện thoại mua của T là điện thoại bị trộm cắp.

Ngày 05/12/2024, anh Trần Bình P đến Công an phường P trình báo vụ việc.

Ngày 06/12/2024, Nguyễn Văn T đến Công an phường P đầu thú khai nhận hành vi phạm tội.

Ngày 13/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 7519, bằng hình thức trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, dung lượng 128GB cho anh Trần Bình P và trả cho chị Ngô Thị V 16.000.000 đồng, sau khi nhận lại tài sản anh P và chị V không có ý kiến, yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-HĐ ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn T theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 11/CT-VKS-HĐ ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;

  • - Xử phạt Nguyễn Văn T: 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh P đã được nhận lại điện thoại, không đề nghị giải quyết về phần dân sự; chị V đã được nhận lại số tiền 16.000.000 đồng và không có đề nghị gì khác về phần dân sự nên không xem xét.
  • - Về án phí và quyền kháng cáo: theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp tại cơ quan điều tra, biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng thu giữ, phù hợp kết luận định giá, lời khai của người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05/12/2024, tại phòng trọ số 305BT2-04 KĐT V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội, lợi dụng sơ hở của anh Trần Bình P, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Trần Bình P 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 1:358281861978751; số Imei 2: 358281861885492, trị giá 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng). Sau khi lấy được điện thoại của anh P, T mang đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại “Đức Mạnh M” tại xóm H, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội bán cho chị Ngô Thị V được 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Hành vi của bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử bị cáo và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống phạm này đang ngày càng gia tăng, trên địa bàn thủ đô và cả nước.

[3]. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

  • - Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi người bị hại trình báo, bị cáo đã ra đầu thú, tài sản bị

trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Trần Bình P đã được nhận lại điện thoại và không có ý kiến, yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[5]. Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với chị Ngô Thị V, khi mua chiếc điện thoại, do bị cáo biết mật khẩu điện thoại để mở điện thoại nên chị V không nghi ngờ, không biết điện thoại do bị cáo trộm cắp của người khác. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Ngô Thị V là có căn cứ. Chị V đã được nhận lại 16.000.000 đồng và không có ý kiến, yêu cầu gì khác, nên không cần thiết phải đưa vào tham gia tố tụng tại tòa án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[6]. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Xử lý vật chứng:

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số Imei 1:358281861978751; số Imei 2: 358281861885492 là tài sản của anh P và số tiền 16.000.000 đồng là tài sản của chị V đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H trả lại cho anh P, chị V là phù hợp quy định của pháp luật.

[8] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Xử phạt Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Trần Bình P đã được nhận lại điện thoại và không có ý kiến, yêu cầu gì khác nên không xem xét.
  4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại.
  • -Tòa án NDTP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Công an quận Hà Đông, TP Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2 - CATP Hà Nội.
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Ủy ban nhân dân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T02.25 BA Nguyen Van Truong (173-Hang)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger