Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HSST
Ngày: 17/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, TP. CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Ánh.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Võ Hoàng Vũ
    2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:19/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2025/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: LƯU TUẤN;

    • - Giới tính: Nam;
    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 20 tháng 02 năm 1988; - Nơi sinh: Hậu Giang
    • - ĐKTT: Ấp Tầm Vu 3, xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 9/12; - Nghề nghiệp: Thợ sửa khóa
    • - Họ và tên cha: Lưu M, sinh năm 1954;
    • - Họ và tên mẹ: Nguyễn Thúy H, sinh năm 1960;
    • - Em ruột có 02 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1994;
    • - Bị cáo chưa có vợ, con;
    • - Tiền án, tiền sự: chưa.
    • - Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. ( Có mặt)
  2. Họ và tên: TRÂN MINH N;

    • - Giới tính: Nam;
    • - Tên gọi khác:
    • - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979; - Nơi sinh: Kiên Giang
    • - ĐKTT: Ấp Phước Chung, xã Mong Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
    • - Chổ ở: không xác định;
    • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không;
    • - Trình độ học vấn: 7/12; - Nghề nghiệp: Mua bán
    • - Họ và tên cha: Trần Thọ T, sinh năm 1939 (chết);
    • - Họ và tên mẹ: Võ Thị S, sinh năm 1949;
    • - A, chị, em ruột: không;
    • - Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1979;
    • - Con có 03 người;
    • - Tiền án, tiền sự: chưa.
    • - Bị cáo bị bắt truy nã ngày 24/10/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N. ( Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • -Ông Phan Minh T1, sinh năm 1986
  • Đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre;
  • Chỗ ở hiện nay: 125/3, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; ( Có mặt)
  • -Ông Nguyễn M1, sinh năm: 1976 ( Vắng mặt)
  • Đăng ký thường trú: khu dân cư S, thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi
  • Chỗ ở hiện nay: 379/6, khu vực 6, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 55 ngày 17/12/2023, trong lúc tuần tra địa bàn, lực lượng Công an phường A đã phát hiện tại bãi đất trống cạnh số C, tổ H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ có 06 đối tượng gồm: Lưu T2, Biện Văn G, Phan Văn V, Huỳnh Lê Duy M2, Nguyễn Phát L1 và Võ Hoàng T3 đang đánh bài bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền, mỗi ván bài đặt cược từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, tạm giữ tang vật gồm:

  • 05 bộ bài tây, tiền thu tại nơi đánh bạc: 230.000 đồng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh dương (của Lưu T2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu đen (của Nguyễn M1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng (của Phan Minh T1);
  • Tiền cá nhân: 5.945.000 đồng (thu của Lưu T2 1.500.000 đồng, Biện Văn G 250.000 đồng, Phan Văn V 2.000.000 đồng, Huỳnh Lê Duy M2 100.000 đồng, Nguyễn Phát L1 1.165.000 đồng, Võ Hoàng T3 160.000 đồng, Phan Minh T1 770.000 đồng). Trong đó, số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc hình thức bài cào 03 lá là 3.630.000 đồng, cụ thể: Võ Hoàng T3 200.000 đồng, Nguyễn Phát L1 600.000 đồng, Huỳnh Lê Duy M2 120.000 đồng, Biện Văn G 310.000 đồng, Phan Văn V 2.100.000 đồng, Lưu T2 300.000 đồng.Tổng số tiền đánh bạc của các đối tượng là 3.860.000 đồng (230.000 đồng + 3.630.000 đồng) (bút lục: 33 - 35).

Qua kiểm tra điện thoại, Cơ quan điều tra phát hiện điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 của Lưu T2 có nội dung mua bán số lô, số đề ăn thua bằng tiền 03 Đài B, Trà Vinh và Vĩnh Long với bị cáo Trần Minh N vào ngày 08/12/2023 với tổng số tiền đánh bạc là 9.760.000 đồng, cụ thể:

  • Đài B: số tiền bị cáo N mua số lô, số đề là 1.620.0000 đồng. Căn cứ vào kết quả xổ số của Đài B thì N trúng 4.900.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Lưu T2 và Trần Minh Nghĩa L2 6.520.000 đồng.
  • Đài T: số tiền bị cáo N mua số là 1.620.0000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số của đài T4 thì N không có số trúng. Số tiền đánh bạc đài Trà Vinh là 1.620.0000 đồng.
  • Đài V: số tiền bị cáo N mua số là 1.620.0000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số, không có số trúng, số tiền đánh bạc đài Vĩnh Long là 1.620.0000 đồng.

Ngoài ra, bị cáo T2 còn nhiều lần bán số lô, số đề các đài miền N và miền B cho Nguyễn M1 qua điện thoại nhưng không rõ số tiền đánh bạc của từng đài. Riêng ngày 16/12/2023, qua thống kê thì tổng số tiền Nguyễn M1 mua số đề 03 đài Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh và Long An của bị cáo T2 là 3.520.000 đồng. Bị cáo T2 bán số đề cho Phan Minh T1 ngày 14/12/2023 (đài Tây Ninh) và ngày 16/12/2023 (03 đài Long An, Thành phố Hồ Chí Minh và Hậu Giang) với tổng số tiền 4.770.000 đồng.

Qua điều tra bị cáo Lưu T2 khai nhận: đã bán số lô đề khoảng 02 tháng trước khi bị phát hiện. Hàng ngày bị cáo sử dụng điện thoại di động OPPO A54, gắn sim số 0925.149.122 để bán số lô, số đề; sau đó thống kê giao lại số và tiền cho người tên “Nam” (chưa rõ nhân thân) để được hưởng hoa hồng 10%/ tổng số tiền đã bán; tổng số tiền hoa hồng bị cáo đã nhận là khoảng 7.000.000 đồng. Đến ngày 17/12/2023 bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài cào 03 lá cùng Biện Văn G, Phan Văn V, Huỳnh Lê Duy M2, Nguyễn Phát L1 và Võ Hoàng T3 thì bị phát hiện, qua kiểm tra điện thoại đã thống kê số tiền bị can đã bán số đề cho bị can Trần Minh N; Nguyễn M1 và Phan Minh T1 (bút lục: 122 - 203; 212 - 215).

Quá trình điều tra, bị cáo Trần Minh N đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã bị cáo và tách vụ án hình sự; tạm đình chỉ điều tra bị cáo. Đến ngày 24/10/2024, Cơ quan điều tra đã bắt được bị cáo Trần Minh N. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo N khai nhận giữa bị cáo và bị cáo T2 có mối quan hệ bạn bè từ 02 - 03 năm trước, khi biết bị cáo T2 có bán số lô, số đề, bị cáo đã sử dụng số điện thoại 0815.761.xxx nhắn tin vào số điện thoại 0963.495.xxx và số 0925149122 của bị cáo T2 để mua số đề; qua kết quả thống kê, ngày 08/12/2024, bị cáo thừa nhận đã mua số đề do bị cáo T2 bán gồm 03 đài Trà Vinh, Vĩnh Long và Bình Dương với tổng số tiền 9.760.000 đồng (bút lục: 226-229, 260-293).

Các đối tượng Phan Minh T1 và Nguyễn M1 cũng đều thừa nhận tham gia đánh bạc với bị cáo Lưu T2 bằng hình thức mua số đề, do số tiền đánh bạc của Phan Minh T1 và Nguyễn M1 đều chưa đủ định lượng; T1 và M1 cũng chưa chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tang vật vi phạm hành chính đến Công an quận N xử lý hành chính về hành vi “Mua số đề với mục đích được thua bằng tiền” theo điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Các đối tượng Võ Hoàng T3, Nguyễn Phát L1, Huỳnh Lê Duy M2, Biện Văn G, Phan Văn V có tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài cào 03 lá ăn thua bằng tiền vào ngày 17/12/2023 nhưng số tiền đánh bạc đều chưa đủ định lượng 5.000.000 đồng, các đối tượng trên cũng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tang vật vi phạm hành chính đến Công an quận N xử lý hành chính các đối tượng trên về hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài được thua bằng tiền” theo điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Quá trình điều tra, bị can Lưu T2 và Trần Minh N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Ngày 06/9/2024 bị cáo Lưu T2 nộp tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng. Bị cáo Trần Minh N bị bắt theo Quyết định truy nã.

Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố Lưu T2 và Trần Minh N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin giảm nhẹ hình phạt.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Minh T1 trình bày có tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi số đề với bị cáo T2 với số tiền 4.770.000 đồng, đã nhận thấy vi phạm pháp luật, hứa sẽ không tham gia đánh bạc nữa;
  • Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị:
    • Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Lưu T2 từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng
    • Tịch thu tiền thu lợi bất chính 7.000.000 đồng; bị cáo Lưu T2 đã nộp số tiền 3.000.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0000629, ngày 16/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ; Buộc bị cáo phải nộp thêm 4.000.000 đồng ( Bốn triệu đồng);
    • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm s,i khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Trần Minh N 04 tháng 21 ngày bằng thời hạn tạm giam trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa;
    • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
      • -Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A54 màu xanh dương, imei: 862366053125086; mật khẩu: 111222, đã qua sử dụng; 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu trắng, mật khẩu: 868686, imei: 35915507484120, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động OPPO F11 Pro màu đen, imei: 863880040997695, đã qua sử dụng;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác ai không khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.

[2]. Về tội danh và hình phạt:

Với động cơ kiếm tiền bằng thu lợi bất chính, bị cáo Lưu T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền, bằng hình thức ghi số đề. Bị cáo là người trực tiếp ghi phơi đề, tổng hợp theo dõi, cộng tiền, trực tiếp ăn thua bằng tiền với người chơi số đề và với bị cáo Trần Minh N, để thu lợi bất chính. Qua kiểm tra điện thoại, Cơ quan điều tra đã xác định điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54 của Lưu T2 có nội dung mua bán số lô, số đề ăn thua bằng tiền 03 đài Bình Dương, Trà Vinh và Vĩnh Long với bị cáo Trần Minh N vào ngày 08/12/2023 với tổng số tiền đánh bạc là 9.760.000 đồng, cụ thể:

  • Đài B: số tiền bị cáo N mua số lô, số đề là 1.620.0000 đồng. Căn cứ vào kết quả xổ số của Đài B thì N trúng 4.900.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Lưu T2 và Trần Minh Nghĩa L2 6.520.000 đồng.
  • Đài T: số tiền bị cáoNghĩa mua số là 1.620.0000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số của đài T4 thì N không có số trúng. Số tiền đánh bạc đài Trà Vinh là 1.620.0000 đồng.
  • Đài V: số tiền bị cáo N mua số là 1.620.0000 đồng. Căn cứ kết quả xổ số, không có số trúng, số tiền đánh bạc đài Vĩnh Long là 1.620.0000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lưu T2 và Trần Minh N thừa nhận có đánh bạc trực tiếp với nhau bằng hình thức chơi số đề với tổng số tiền ăn thua bằng tiền là 9.760.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ dữ liệu điện tử, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng điện thoại và các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ, được thẩm tra lại tại phiên tòa. Do đó đã đủ căn cứ xác định hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về vai trò tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo, thì các bị cáo giữ vai trò ngang nhau các bị cáo đã trực tiếp đánh bạc với nhau bằng hình thức chơi số đề để ăn thua bằng tiền với nhau, nên hình phạt của các bị cáo là tương đương nhau; Đối với bị cáo N lẽ ra cũng không áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, do quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn, nên bị bắt theo lệnh truy nã và bị tạm giam;

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, đã tạo tâm lý cho một bộ phận người dân lười lao động, kiếm tiền bất chính bằng hình thức cầu mai, làm suy kiệt kinh tế gia đình và đây cũng là mầm mống làm phát sinh các loại tội phạm khác; Bị cáo T2 ngoài đánh bạc với bị cáo N còn đánh bạc với nhiều người khác, mặc dù chưa đủ định lượng để xử lý hình sự; Đối với bị cáo N sau khi bị cơ quan chức năng phát hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn. Do đó phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào như các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự, bị cáo T2 đã nộp một phần thu lợi bất chính; Đối với bị cáo N do có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân bị cáo cũng đã thể hiện sự ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo lẽ ra cũng chỉ áp dụng hình phạt tiền như bị cáo T2, tuy nhiên bị cáo đang bị tạm giam, nên cần áp dụng hình phạt tù và áp dụng Điều 54 xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cũng phù hợp;

[3].Về xử lý vật chứng: Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[4].Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Lưu T2 và Trần Minh N phạm tội: “Đánh bạc”.

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
  • Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt Bị cáo Lưu T2 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)

Buộc bị cáo nộp sung ngân sách Nhà nước;

  • Tịch thu tiền thu lợi bất chính 7.000.000 đồng ( Bảy triệu đồng); Bị cáo Lưu T2 đã nộp số tiền 3.000.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0000629, ngày 16/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ; Buộc bị cáo Lưu T2 phải nộp thêm 4.000.000 đồng ( Bốn triệu đồng);

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Điều 106; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt Bị cáo Trần Minh N 04 ( Bốn ) tháng 21 ( Hai mươi mốt) ngày

Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam (từ ngày 24/10/2024 đến ngày 17/3/2025); Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Trần Minh N tại phiên tòa;

Xử lý vật chứng:

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động OPPO A54 màu xanh dương, imei: 862366053125086; mật khẩu: 111222, đã qua sử dụng; 01 Điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu trắng, mật khẩu: 868686, imei: 35915507484120, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động OPPO F11 Pro màu đen, imei: 863880040997695, đã qua sử dụng;
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0000629, ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ;

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lưu T2, Trần Minh N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND Q. Ninh Kiều;
  • - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Các cơ quan theo quy định;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

BÙI XUÂN ÁNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu T2 và Trần Minh N phạm tội " Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger