Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HSST

Ngày : 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THANH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Quang Cảnh;

2/ Bà Trương Hồng Phượng;

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Nhẫm là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/HSST ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN DƯ P; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: 309/25/10 T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Viết T, sinh năm 1963 và ba Trương N, sinh năm 1964; Vợ, con: Chưa có; Nhân thân: Ngày 27/3/2013, Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng từ về tội “Cướp giật tài sản” ( đã xóa án tích); Ngày 20/01/2017 bị Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng; Ngày 06/8/2019 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng; Ngày 04/9/2024 bị Toà án nhân dân quận Tân Phú đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng đến ngày 01/10/2024 Cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 04/01/2023 bị Toà án nhân dân quận Tân Bình đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, kể từ ngày 30/12/2023; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2024;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

- Anh Đặng Văn K, sinh năm: 2000, địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Võ Thị Thu T1, sinh năm 1995, địa chỉ: 2 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

(anh K, chị T1 vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Dư P sống lang thang, không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 01 giờ sáng ngày 17/6/2024, khi đi bộ trước cửa hàng T3, địa chỉ số F Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, P thấy xe găn máy hiệu Honda Vision biển số 76K1-07990 (xe của anh Đặng Văn K quản lý) đang dựng phía trước cửa hàng, không có người trông coi, chìa khoá vẫn cắm vào ổ khoá xe, xe quay đầu vào phía trong cửa hàng, đuôi xe quay ra hướng ngoài đường. P nảy sinh ý định trộm cắp xe gắn máy trên nên đi bộ lòng vòng qua lại 02 lần để quan sát, chờ đợi cơ hội thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau đó, P đi bộ tiếp cận xe máy, rồi ngồi lên xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 76K1-07990 dùng tay phải vặn mở công tắc khoá xe, đề nổ máy và rồi dùng chân đẩy lùi xe về sau khoảng 01 mét sau đó điều khiển xe tẩu thoát theo hướng đường Â. P điều khiển xe vừa trộm được lưu thông trên đường Quốc lộ 22 hướng về cầu A, đến bãi đất trống cạnh số. nhà A ấp A, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. P gặp bạn tên T2 (không rõ lai lịch) đang nằm ngủ trên võng. Tuán rủ P cùng sử dụng ma tuý đá với nhau. Sau khi sử dụng xong, P nhờ T2 mang xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 76K1-07990 đi bán giúp, P hứa nếu Tuán bán được sẽ cho T2 500.000 đồng tiền công. T2 đồng ý và ý thức biết xe gắn máy trên do P trộm cắp mà có nhưng vẫn nhận lời. Sau đó, T2 một mình điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 76K1-07990 đi bán, còn P ngủ trên võng của T2 và đợi tại khu bãi đất trống.

Đến khoảng 06 gờ sáng ngày 17/6/2024, P thức dậy nhưng không thấy T2 quay về nên đi bộ ra đường Q đón xe buýt đi về lại bến xe A và sống lang thang.

Đến ngày 05/7/2024, P bị Công an phường P, quận T kiểm tra lập hồ sơ đưa vào Cơ sở cai nghiện ma tuý Nhị X về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Sau dó, P được chuyển đến Cơ sở cai nghiện ma tuý số C, tỉnh Bình Dương để tiếp tục cai nghiện ma tuý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra C quận T, Nguyễn Dư P đã khai nhận hành vi phạm tội đã nêu, phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

Theo Kết luận định giá tài sản số 118/KL-HĐĐGTS ngày 06/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T xác định: tại thời điểm định giá ngày 17/6/2024 thì một (01) xe gắn máy Honda Vision biển số 76K1-07990, số máy JF58E0290255, số khung RLHJF580XEY404517 có giá trị 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng (bút lục số 70). Qua xác minh, xe gắn máy trên do chị Võ Thị Thu T1 đứng tên chủ sở hữu (bút lục số 94). Ngày 05/6/2024, chị T1 cho anh K thuê xe gắn máy trên từ ngày 05/6/2024, giá trị hợp đồng thuê là 1.800.000 (một triệu tám trăm ngàn) đồng/tháng với mục đích làm phương tiện chạy xe ôm công nghệ G, sau đó giao xe cho anh K quản lý và sử dụng. Đến 21 giờ ngày 17/6/2024 K nhắn tin qua ứng dụng Zalo báo cho chị T1 biết vào khoảng 01 giờ sáng ngày 17/6/2024 K để xe máy hiệu Honda Vision biển số 76K1-07990 tại trước cửa hàng T3 - địa chỉ F Â, phường P, quận T

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSQTP ngày 02/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Dư P về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Dư P theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 17/6/2024, Nguyễn Dư P đã có hành vi lén lút trộm cắp một (01) xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 76K1-07990 trị giá 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng của anh Đặng Văn H tại số F Â, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị bắt giữ cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội danh như trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút trộm cắp chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Đồng thời bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, một lần bị kết án về hành vi “Cướp giật tài sản” và nhiều lần lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không biết lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt thật nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại – anh Đặng Văn K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng bao gồm: giá trị xe, tiền cọc thuê xe, tiền thuê xe và tiền công lao động bị mất). Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự thoả thuận tự nguyện giữa bị cáo và bị hại, không trái pháp luật nên ghi nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho bị cáo;

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dư P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

* Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt:

Nguyễn Dư P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2024;

* Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo bồi thường cho anh Đặng Văn K số tiền 27.000.000 (hai mươi bảy triệu) đồng;

Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền;

Kể từ ngày bị cáo phải thi hành trách nhiệm dân sự như nêu trên cho đến khi thi hành xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.350.000 (một triệu ba trăm năm mươi ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;

Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết/tống đạt bản án hợp lệ theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an quận Tân Phú;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PC27 CATP.HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Huỳnh Hoàng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Dư P phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger