Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 44/2025/HSST

Ngày: 01 – 04 – 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và ông Lê Quang Thế.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Luật – Thư ký viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 04 năm2025, tại Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Trần Văn T, sinh năm 1957; Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1962; Anh, chị, em: Có 04 người. Bị can là con thứ út; Vợ: Trương Thị A, sinh năm 1999. Con: có 03 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 29/3/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử 05 năm tù về Tội cướp tài sản. Ngày 31/12/2024, bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện B, tỉnh Hải Dương Quyết định khởi tố bị can về Tội cướp giật tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 171 BLHS. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam K – Công an tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa).

  • • Người bị hại: Chị Lê Thị Thu H1, sinh năm 1999.
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1987.
  • Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • -Những người làm chứng:
  • 1/ Anh Ngô Minh T1, sinh năm 1998.
  • Trú tại: thôn Đ, xã P, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • 2/ Chị Trương Thị A, sinh năm 1999.
  • Trú tại: thôn T, xã V, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  • (Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 25 phút ngày 16/11/2024, sau khi bốc vác hoa quả thuê tại chợ Đ, thuộc xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên thì Trần Văn C sinh năm 1991 ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đứng đợi tại ven đường. Lúc này C nhìn thấy tại sân trước cửa nhà của ông Lê Biên C1 sinh năm 1960 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K dựng chiếc xe máy điện nhãn hiệu HTC màu đen trắng, không có biển số, chìa khoá xe vẫn cắm cổ xe của chị Lê Thị Thu H1 sinh năm 1999 ở thôn Đ, xã D, huyện K (con gái ông Cl) nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này mang bán lấy tiền. Quan sát xung quanh và trong nhà thì thấy cửa kính đóng kín không có ai nên C đã tiến lại chiếc xe máy điện, dùng tay phải mở khoá xe rồi ngồi lên yên xe điều khiển xe đi theo hướng ngã tư Đ rồi về nhà cất giấu. Đến sáng ngày 17/11/2024, C gọi điện liên lạc với anh Phạm Văn H2, sinh năm: 1988 ở xóm H, xã T, huyện K (là anh họ của C) để nói về việc bán chiếc xe máy điện, C hẹn anh H2 ra khu vực cổng chùa A1, xã T để xem xe thì anh H2 đồng ý, C điều khiển chiếc xe máy điện ra cổng chùa như đã hẹn với anh H2. Khi gặp anh H2, C nói: “do C2 Thú nợ tiền em rồi gán chiếc xe này cho em” thì anh H2 nói lại “là xe có ngon không, có đi được không”, C tiếp tục nói “xe này ngon, mua mới hơn hai mươi triệu”, sau đó cả hai thống nhất giá bán cho anh Hay là 3.000.000 đồng, số tiền này C đã tiêu sài cá nhân hết. Đến chiều cùng ngày C được biết thông tin chủ xe máy điện đang tìm chiếc xe, C đã liên lạc với anh H2 và nói chiếc xe là do C trộm cắp tại xã Đ. Sau khi biết được chiếc xe là do C trộm cắp thì anh H2 nhiều lần liên lạc khuyên bảo C đến lấy lại xe điện để mang trả lại người bị mất. Sau khi có sự khuyên bảo tích cực của anh H2, đến ngày 22/11/2024 C đã đến nhà anh H2 xin lại chiếc xe rồi mang chiếc xe máy điện đến giao nộp cho Công an xã Đ để hoàn trả cho bị hại, đồng thời C giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của mình và xin đầu thú. Quá trình điều tra bị can Trần Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 22/11/2024, chị Lê Thị Thu H1 giao nộp cho Công an xã Đ 01file video ghi lại diễn biến hành vi trộm cắp của Trần Văn C. Ngày 23/11/2024, Công an xã Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc và vật chứng đến Công an huyện K để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 24/11/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện K tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn C tại thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên, kết quả:

  • - T2 tại vị trí chân cầu thang tại phòng khách tầng 1 tại nhà ở của Trần Văn C 01 chiếc áo khoác, dạng áo nỉ màu đen có mũ liền áo, có khoá kéo, tại khu vực phía trước ngực áo và sau lưng áo có hình hoa văn được thêu bằng chỉ màu trắng;
  • - T2 tại vị trí giá treo (phơi) quần áo để tại sân (gần cổng ra vào) nhà Trần Văn C 01 chiếc quần soóc, dạng quần ngố màu đen, tại vị trí đường chỉ quần dọc hai bên ống quần có chữ nước ngoài màu trắng và 01 chiếc áo phông cộc tay loại áo không có cổ màu đen, phía trước ngực áo có in hoa văn và chữ nước ngoài có màu trắng và màu xanh;
  • - T2 tại vị trí thềm bậc phía trước cửa nhà ở của Trần Văn C 01 đôi dép, dạng dép lê một quai màu đen, trên quai dép có chữ nước ngoài màu trắng.

Ngày 25/11/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện K yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K định giá tài sản đối với chiếc xe máy điện nêu trên. Tại bản kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: chiếc xe máy điện nhãn hiệu HTC mày đen trắng không có biển số có giá trị tại thời điểm định giá ngày 16/11/2024 là 6.317.000 đồng.

Ngày 03/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện K ra Quyết định Trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh H giám định hình ảnh file video đã thu giữ của chị Lê Thị Thu H1. Tại bản kết luận giám định số 390 ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: không phát hiện dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung trong file video gửi đi giám định.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 07/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại 01 chiếc xe gắn máy cho chị Lê Thị Thu H1.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; 01 chiếc áo khoác, dạng áo nỉ màu đen có mũ liền áo, có khoá kéo, tại khu vực phía trước ngực áo và sau lưng áo có hình hoa văn được thêu bằng chỉ màu trắng; 01 chiếc quần soóc, dạng quần ngố màu đen, tại vị trí đường chỉ quần dọc hai bên ống quần có chữ nước ngoài màu trắng và 01 chiếc áo phông cộc tay loại áo không có cổ màu đen, phía trước ngực áo có in hoa văn và chữ nước ngoài có màu trắng và màu xanh; 01 đôi dép, dạng dép lê một quai màu đen, trên quai dép có chữ nước ngoài màu trắng là đồ dùng bị can mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Lê Thị Thu H1 đã nhận lại chiếc xe máy điện và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự. Anh Phạm Văn H2 cũng không yêu cầu bị can phải trả số tiền 3.000.000 đồng

Tại bản cáo trạng số: 49/CT-VKS - KC ngày 05/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố bị cáo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Tại phiên toà hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện K giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo như tại Cáo trạng số 49/CT-VKS - KC ngày 05/03/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 47của BLHS; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Đề nghị xử phạt bị cáo C từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án này. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh H2 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; 01 chiếc áo khoác, dạng áo nỉ màu đen có mũ liền áo, có khoá kéo, tại khu vực phía trước ngực áo và sau lưng áo có hình hoa văn được thêu bằng chỉ màu trắng; 01 chiếc quần soóc, dạng quần ngố màu đen, tại vị trí đường chỉ quần dọc hai bên ống quần có chữ nước ngoài màu trắng và 01 chiếc áo phông cộc tay loại áo không có cổ màu đen, phía trước ngực áo có in hoa văn và chữ nước ngoài có màu trắng và màu xanh; 01 đôi dép, dạng dép lê một quai màu đen, trên quai dép có chữ nước ngoài màu trắng. Truy tịch thu của bị cáo số tiền 3.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

Bị cáo C nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình tài liệu, chứng cứ gì, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do chính đáng và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại, ảnh hưởng cho việc xét xử vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của BLTTHS vẫn tiến hành xét xử vụ án theo trình tự, thủ tục chung.
  3. Về chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 25 phút ngày 16/11/2024, tại trước của nhà ông Lê Biên C1 sinh năm 1960, ở thôn Đ, xã Đ, huyện K, Trần Văn C đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu HTC không có biển số của chị Lê Thị Thu H1 sinh nam 1999 ở thôn Đ, xã D, huyện K có giá trị 6.317.000 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, chỉ vì bị cáo tham lam, lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố C về tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết chấp hành và tuân thủ pháp luật.

Đối với anh Phạm Văn H2 khi mua chiếc xe máy điện của C không biết chiếc xe này là tài sản do C trộm cắp mà có, nhưng sau khi biết rõ đó là tài sản do phạm tội mà có đã tích cực tác động khuyên bảo, động viên C đến lấy lại tài sản đã trộm cắp để tự nguyện giao nộp trả lại bị hại nên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

  1. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
  • Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị giáo dục bằng bản án có hiệu lực pháp luật về hành vi cùng loại xâm phạm sở hữu. Ngày 31/12/2024, bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện B, tỉnh Hải Dương Quyết định khởi tố bị can về Tội cướp giật tài sản quy định tại Khoản 1 Điều 171 BLHS.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày ông nội và bố bị cáo được nhà nước tặng thưởn huân huy chương. Tuy nhiên trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo vẫn không xuất trình được tài liệu chứng minh cho lời trình bày của bị cáo là đúng nên không được Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã bị giáo dục bằng bản án có hiệu lực pháp luật nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, lại phạm tội do lỗi cố ý. Không những thế sau khi thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khác và ngày 31/12/2024 đã bị Cơ quan CSĐT – Công an huyện B, tỉnh Hải Dương ra Quyết định khởi tố bị can về tội Cướp giật tài sản theo Khoản 1 Điều 171 BLHS. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  1. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, đang sống phụ thuộc gia đình. Nên quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 173 của BLHS để phạt tiền đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc trộm cắp tài sản nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 chiếc áo khoác, dạng áo nỉ màu đen có mũ liền áo, có khoá kéo, tại khu vực phía trước ngực áo và sau lưng áo có hình hoa văn được thêu bằng chỉ màu trắng; 01 chiếc quần soóc, dạng quần ngố màu đen, tại vị trí đường chỉ quần dọc hai bên ống quần có chữ nước ngoài màu trắng và 01 chiếc áo phông cộc tay loại áo không có cổ màu đen, phía trước ngực áo có in hoa văn và chữ nước ngoài có màu trắng và màu xanh; 01 đôi dép, dạng dép lê một quai màu đen, trên quai dép có chữ nước ngoài màu trắng là đồ dùng bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo xin được nhận lại nên trả lại cho bị cáo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Lê Thị Thu H1 đã nhận lại chiếc xe máy điện, không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn H2 cũng không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 3.000.000 đồng đã bỏ ra mua chiếc xe điện do bị cáo trộm cắp mà có. Do vậy, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Tuy nhiên, số tiền 3.000.000 đồng này do bị cáo mua bán tài sản trộm cắp mà có, bị cáo khai nhận đã tiêu sài hết nên cần truy tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015.

  1. Về án phí: Cần buộc bị cáo C phải chịu án phí HSST là 200.000₫ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố:

Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

Bị cáo Trần Văn C 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án này.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • - Truy tịch thu của bị cáo C số tiền 3.000.0000đ (ba triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
  • - Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; 01 chiếc áo khoác, dạng áo nỉ màu đen có mũ liền áo, có khoá kéo, tại khu vực phía trước ngực áo và sau lưng áo có hình hoa văn được thêu bằng chỉ màu trắng; 01 chiếc quần soóc, dạng quần ngố màu đen, tại vị trí đường chỉ quần dọc hai bên ống quần có chữ nước ngoài màu trắng và 01 chiếc áo phông cộc tay loại áo không có cổ màu đen, phía trước ngực áo có in hoa văn và chữ nước ngoài có màu trắng và màu xanh; 01 đôi dép, dạng dép lê một quai màu đen, trên quai dép có chữ nước ngoài màu trắng.

(Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 45/QĐ-VKS - KC ngày 05/03/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại địa phương nơi thường trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HSST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 44/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger