|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày: 27- 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Thông - Nguyên hiệu trưởng trường tiểu học số 3 thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
Bà Nguyễn Thị Châu - Nguyên hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Dân tộc nội trú huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Thạch – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bưởi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Các bị cáo:
C (tên gọi khác: Không); sinh ngày 7 tháng 3 năm 2001 tại Gia Lai; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi cư trú: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm nông; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông T (đã chết) và bà S, sinh năm 1983; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị B – sinh năm 1998 và có hai người con cùng sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29-9-2020, bị Toà án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 38/2020/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù (đã xoá án tích)
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
T1 (tên gọi khác: Không); sinh ngày 18 tháng 6 năm 2006 tại Gia Lai; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi cư trú: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông A M (đã chết) và bà M1, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
HLêu (tên gọi khác: Không); sinh ngày 18 tháng 5 năm 1997 tại Gia Lai; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi cư trú: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông A Y, sinh năm 1976 và bà B1, sinh năm 1977; bị cáo có vợ tên H, sinh năm 1995 và có 1 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
T2 (tên gọi khác: Không); sinh ngày 15 tháng 10 năm 2007 tại Gia Lai; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp; nơi cư trú: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Jrai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm nông; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà B2, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Những người tham gia tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của bị cáo T2: Bà B2; địa chỉ tại Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo C, T1, H Lêu: Ông Trần Mạnh T3 – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo T2: Ông Huỳnh Văn K – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
Bị hại: Anh P; địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Anh Cai Văn D; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh J; địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh P1; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Chị X; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác: Đại diện Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
Người phiên dịch: Bà H1; địa chỉ: Xã C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10-5-2024, trong khi C cùng T1 và HLêu đi bẫy chuột tại khu vực rẫy cà phê giáp ruộng lúa thuộc thôn P, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai thì phát hiện một máy bơm của anh P (sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) đang để dưới hố nước, không có người trông coi. Sau khi đặt bẫy xong, cả ba đi về nhà Thăm tại thôn A, xã I, để uống rượu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô biển số 99F4-3694 (mượn của anh J, sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã I, là bố vợ của C) chở T1, H Lêu đến chỗ đặt bẫy chuột để kiểm tra các bẫy đặt lúc chiều. Lúc này, C nảy sinh ý định trộm cắp máy bơm trên nên đã rủ T1, H2 thì cả hai đồng ý rồi cùng nhau đi bộ đến hố nước có máy bơm. Chek và T1 cùng nhau kéo máy bơm lên, bỏ lại ống nước ở cạnh hố còn H Lêu tháo dây điện ở đoạn nối với aptomat rồi cả ba mang máy bơm để trên gác ba ga của xe mô tô. Chek điều khiển xe chở T1, H lêu cùng máy bơm về nhà C tại thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, rồi H L đi về nhà ngủ còn C và T1 mang máy bơm cất giấu tại đống rơm ở sân bóng thôn A, xã I.
Khoảng 10 giờ ngày 11-5-2024, khi C cùng H2, T1 và T2 (sinh ngày 15-10-2007, trú cùng thôn) ngồi nhậu tại nhà T1 thì C kể cho T2 nghe việc trộm cắp máy bơm vào tối ngày 10-5-2024 và nói T1 cùng T2 đi bán máy bơm để lấy tiền mua rượu, T2 đồng ý. Thăm mượn xe mô tô của H Lêu nhưng H Lêu không đồng ý vì xe gần hết xăng. Một lúc sau, anh P1 (sinh năm 1998, trú tại thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) điều khiển xe mô tô biển số 81B2-539.23 đến trả tiền công bỏ phân cho T2 và T1 rồi ngồi chơi. Thấy vậy, C mượn xe của anh P1 để T2 và T1 đi mua rượu, anh P1 đồng ý. Thăm điều khiển xe mô tô biển số 81B2-539.23 chở T2 đi đến sân bóng thôn A lấy máy bơm rồi đem đi bán cho tiệm sửa chữa điện cơ của anh Cai Văn D (sinh năm 1991) tại Thôn A, xã I) được số tiền 1.500.000 đồng. Số tiền này, T1 đưa lại cho C và được C cho 50.000 đồng, còn lại Chek giữ để tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất máy bơm nước, anh P đã làm đơn trình báo cơ quan Công an. Ngày 15-5-2024, H Lêu đã ra đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá số 72/KL-HĐĐGTS ngày 20-6-2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận 01 máy bơm nước, nhãn hiệu DAPHOVINA, công suất 5KW, loại 7 mã lực trị giá 2.500.000 đồng.
Các vật chứng liên quan trong vụ án gồm:
- - 01 máy bơm nước, nhãn hiệu DAPHOVINA, công suất 5KW, loại 7 mã lực. Sau khi định giá, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã xử lý vật chứng trả lại cho anh P là chủ sở hữu;
- - Xe mô tô xe biển số 99F4-3694 mà C điều khiển chở T1 và H Lêu đi trộm cắp tài sản. Qua điều tra, xác định, xe mô tô này thuộc sở hữu của anh J (sinh năm 1981, trú tại thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, là bố vợ của C) nhưng chưa sang tên đổi chủ. Ngày 10-5-2024, các Bị cáo sử dụng xe mô tô trên để trộm cắp tài sản, ông J không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu.
- - Xe mô tô biển số 81B2-539.23 mà T1 và T2 mượn của anh P1 để đi bán tài sản trộm cắp tài sản mà có. Qua điều tra, xác định xe mô tô trên thuộc sở hữu của chị X (sinh năm 1980, trú tại thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, là chị gái của P1). Ngày 11-5-2024, chị X cho anh P1 mượn để đi làm nhưng sau đó, T1 và T2 mượn xe mô tô trên để đi bán tài sản trộm cắp tài sản mà có, chị X và anh P1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
* Về dân sự:
Bị hại anh P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Anh Cai Văn D không yêu cầu các Bị cáo phải bồi thường.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKS-H.ĐAK ĐOA ngày 26-5-2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định truy tố bị cáo C, T1, HLêu về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
- - Kiểm sát viên phát biểu luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo C, T1, HLêu phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo C từ 9 -12 tháng tù;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo H2 từ 6-9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12-18 tháng;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T1 từ 6-9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12-18 tháng;
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T2 từ 6-9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12-18 tháng;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí:
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo:
Ngày 10-5-2024, C, T1 và H Lêu đã lén lút trộm cắp 01 máy bơm nước nhãn hiệu DAPHOVINA, công suất 5KW, loại 7 mã lực trị giá 2.500.000 đồng của anh P tại thôn B, xã I sau đó đem đi cất giấu. Đến ngày 11-5-2024, trong lúc C, T1, H Lêu và T2 đang uống rượu, C nói T1 và T2 mang máy bơm đi bán để lấy tiền mua rượu, T2 mặc dù biết máy bơm trên là tài sản do C, T1, H Lêu trộm cắp mà có nhưng vẫn cùng T1 đi bán máy bơm cho anh Cai Văn D tại Thôn A, xã I lấy 1.500.000 đồng; C đưa cho T1 50.000 đồng, số tiền còn lại Chek giữ và tiêu xài cá nhân hết
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó, hành vi của bị cáo C, T1, HLêu đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự;
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như đã nêu trên là có căn cứ, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo C, T1, H2 là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người đầy đủ năng lực hành vi, hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt là vi phạm pháp luật, tuy nhiên với bản chất lười lao động, nhưng muốn có tiền ăn chơi, tiêu xài nên bị cáo vẫn bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không chỉ gây thiệt hại về tài sản cho bị hại mà nghiêm trọng hơn nó còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân.
Hành vi trộm cắp do C, T1, H2 cùng tham gia thực hiện nhưng không có sự bàn bạc, phân công trách nhiệm cụ thể nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, C là người khởi xướng và giữ vai trò chính; T1, H2 là người thực hành tích cực và có vai trò như nhau.
Bị cáo T2 mặc dù không hứa hẹn, nhưng biết rõ tài sản là do C, T1, HLêu trộm cắp mà có, nhưng vẫn cùng T1 mang máy bơm đi bán, tiếp tay cho hành vi trộm cắp của các bị cáo khác, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, cản trở công tác điều tra, thu hồi tài sản phạm pháp.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C xúi giục các bị cáo T1, T2 là người dưới 18 tuổi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Thăm, H Lêu và T2 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, H Lêu ra đầu thú; Thăm và T2 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi.
Vì vậy, bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; H Lêu được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Thăm và T2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và chế định về người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII của Bộ luật Hình sự.
- - Về hình phạt:
Bị cáo C có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử và phải chấp hành hình phạt tù về cùng hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học để tự cảnh tỉnh bản thân, do đó, mặc dù được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chỉ có 1 tình tiết tăng nặng, nhưng Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe, cải tạo và giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo HLêu, T1, T: Hội đồng xét xử xét thấy bản thân các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, việc cho các bị cáo được cải tạo tại chỗ dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Như vậy, trường hợp của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các điều kiện được hưởng án treo được quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự, do đó, không cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và khoan hồng của nhà nước.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy, các bị cáo không có thu nhập, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo C, T1, HLêu phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên bố bị cáo T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về điều luật và hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật hình sự,
- Xử phạt bị cáo C 9 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo HLêu 8 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 16 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên;
- Xử phạt bị cáo T1 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
- - Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 179, khoản 1 Điều 119 của Luật tư pháp người chưa thành niên;
- Xử phạt bị cáo T2 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo T1, H2, T2 cho Ủy ban nhân dân xã I và Công an xã I, huyện Đ, nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc các bị cáo C, T1, HLêu, T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 27-6-2025), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người nêu trên vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Long |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 10-5-2024, C, T1 và H Lêu đã lén lút trộm cắp 01 máy bơm nước nhãn hiệu DAPHOVINA, công suất 5KW, loại 7 mã lực trị giá 2.500.000 đồng của anh P tại thôn B, xã I sau đó đem đi cất giấu. Đến ngày 11-5-2024, trong lúc C, T1, H Lêu và T2 đang uống rượu, C nói T1 và T2 mang máy bơm đi bán để lấy tiền mua rượu, T2 mặc dù biết máy bơm trên là tài sản do C, T1, H Lêu trộm cắp mà có nhưng vẫn cùng T1 đi bán máy bơm cho anh Cai Văn D tại Thôn A, xã I lấy 1.500.000 đồng; C đưa cho T1 50.000 đồng, số tiền còn lại Chek giữ và tiêu xài cá nhân hết Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án, do đó, hành vi của bị cáo C, T1, HLêu đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự;
