TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày: 26/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hoàn
- Bà Đoàn Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST - HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo Lê Đức M; Sinh ngày: 21/10/1999 tại Hưng Yên.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Hưng Yên; Số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị Kim D; Tiền án: không có.
Tiền sự: Quyết định số 05/2022/QĐ-TA ngày 13/7/2022 Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Đức M 02 năm. Ngày 22/7/2024 chấp hành xong.
Nhân thân: Bản án số 17/HSST ngày 11/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Lê Đức M 01 năm 3 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 06/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù, án phí hình sự 200.000 đồng, “đã được xóa án tích”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- công an tỉnh H, được trích xuất, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức M là người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 30/7/2024 của Chủ tịch UBND xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là xã B, tỉnh Hưng Yên). Tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện từ ngày 01/10/2024 và tự ý chấm dứt điều trị từ ngày 07/2/2025 đến nay, theo thông báo chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 02/4/2025 của Trung tâm y tế K.
Khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 29/8/2025 tổ công tác phòng chống tội phạm Công an xã B, tỉnh Hưng Yên làm việc với Lê Đức M. Quá trình làm việc M khai nhận tối ngày 28/8/2025 đã có hành vi sử dụng ma túy loại Heroin. Công an xã B đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu và thực hiện việc giám định nước tiểu theo quy định. Tại bản kết luận giám định số 784/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Có tìm thấy các chất gây Morphine, C và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong gửi giám định.
Morphine, C và 6-MAM là các sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong nước tiểu.
Quá trình điều tra Lê Đức M khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 28/8/2025 M bắt xe khách lên khu vực chợ Q1 thuộc phường T, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy về sử dụng, tại đây M mua của người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được một gói ma túy bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong là chất bột màu trắng dạng cục. Khoảng 18 giờ cùng ngày, M ra cánh đồng phía sau nhà lấy ma túy cho vào bơm kim tiêm rồi cho nước cất vào lắc đều để hòa tan sau đó tiêm chích qua đường ven ở tay phải vào cơ thể.
Cáo trạng số 08/CT-VKSKX ngày 04/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên, truy tố Lê Đức M về tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 ( sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm điểm b, d khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Đức M phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: tiêu hủy 01 mẫu que test thu của Lê Đức M.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng; không có ý kiến gì về bản kết luận giám định, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra C1 tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:
- Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 136 ngày 30/7/2025 của UBND xã N, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là xã B, tỉnh Hưng Yên) (Bút lục số 61);
- Biên bản xác minh tại Trung Tâm y tế K, sở y tế tỉnh H, Đơn đăng ký tham gia điều trị, Thông báo chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế ngày 02/4/2025; Bệnh án điều trị bằng thuốc Methadone (bút lục 64-77);
- Biên bản vụ việc do Công an xã B, tỉnh Hưng Yên lập hổi 09 giờ 15 phút ngày 29/8/2025 (Bút lục số 24,25).
- Biên bản làm việc về việc thu mẫu nước tiểu của Lê Đức M (bút lục số 29);
- Biên bản tạm giữ, đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Công an xã B lập cùng ngày 29/8/2025 (Bút lục số 28,30).
- Kết quả xét nghiệm chất ma túy có trong cơ thể: Lê Đức M dương tính với ma túy (Hêrôin) trong cơ thể;
- Bản kết luận giám định số 784/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N;
- Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến là anh Lê Đức Q sinh năm 1983 và Trần Văn L; đều trú tại xã B, tỉnh Hưng Yên (Bút lục từ số 116 đến 119).
[3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Lê Đức M là người đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và đang trong thời hạn hai năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túyTuy nhiên, vào khoảng 18 giờ ngày 28/8/2025, tại khu vực cánh đồng thôn Đ, xã B, tỉnh Hưng Yên, Lê Đức M đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroin. Kết quả giám định nước tiểu của Lê Đức M: Có tìm thấy chất M1, C và 6-MAM trong nước tiểu.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Điều 256a Tội sử dụng trái phép chất ma túy.
1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy
d) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy
[4] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội ma túy, sau đó bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, song do ham chơi, không chịu tu dưỡng, coi thường pháp luật nên vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự; được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần giảm cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về nguồn gốc số ma túy: Lê Đức M khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ Q1 thuộc phường T, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước có ghi "Mẫu que test thu của Lê Đức M vào ngày 29/8/2025" .
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, d khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đức M phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Đức M 02 ( hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 30/8/2025.
- Về xử lý vật chứng: tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mặt trước có ghi "Mẫu que test thu của Lê Đức M vào ngày 29/8/2025". Tại mép phong bì có 05 chữ ký; 04 dòng chữ viết Nguyễn Hoàng V, Lê Đức Q, Trần Văn L, Lê Đức M; 01 hình dấu chức danh phó trường Công an xã, trung tá Bùi Văn T1; 05 hình dấu đỏ của Công an xã B ( theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản) ngày 07/11/2025).
- Về án phí: Bị cáo Lê Đức M phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26/11/2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN về vụ án hình sự
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2025/HS-ST ngày 18/12/2025
