Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Thành và bà Ngô Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 25/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Lò Văn H, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H1 (đã chết) và bà Lò Thị P, sinh năm: 1974; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án là tại bản án số 314/2023/HSST ngày 12/12/2023 của TAND quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 03/11/2024, chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Phan Thị Thu H2, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B, ĐT: 0978.280.xxx, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 10 phút ngày 03/01/2025, tại khu vực trước cổng khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường G phối hợp với Công an phường H trong lúc làm nhiệm vụ tuần tra đã tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Lò Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm: tại túi áo khoác bên phải H đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, mở ra bên trong có 01 túi nilon màu trắng, mép túi viền màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 29T8-8347. H khai nhận chất bột màu trắng bên trong túi nilon là ma túy Heroine, H mua của 02 nam thanh niên không quen biết với giá 500.000đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định, sau đó bàn giao H cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T (nay là Công an tỉnh B) để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 05/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng, mép túi viền màu đỏ gửi giám định có khối lượng là 0,3170 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroin.

Quá trình điều tra, Lò Văn H đã khai nhận như sau: Bản thân H là đối tượng nghiện ma túy Heroin từ tháng 02/2023 đến nay, loại ma túy mà H sử dụng là ma túy Heroin với tần suất một tuần sử dụng khoảng hai, ba lần. Tháng 12 năm 2024, H đến thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để làm thuê cho anh Trần Trung T, sinh năm: 1989 trú tại khu G, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Anh trọng có để xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số: 29T8-8347 tại nhà trọ Viên Mỹ ở khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh để cho công nhân đi làm.

Khoảng 21 giờ ngày 03/01/2025, H có nhu cầu sử dụng ma túy Heroin nên H mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số: 29T8-8347 trên của anh T một mình điều khiển đi mua ma túy. Khi đi đến cổng khu phố N, phường G, thị xã T thì H gặp hai nam thanh niên không quen biết đi xe mô tô (H không rõ đặc điểm cụ thể và Biển kiểm soát của xe). Nhìn thấy hai thanh niên giống người mà H đã từng mua ma túy nên H hỏi “có hàng không”. Lúc này, hai nam thanh niên có hỏi H “có lấy không” (H hiểu là “có mua ma túy không”), Hồng đáp “có”. Sau đó, H hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroin nhưng do chưa nhận lương nên H có bảo hai nam thanh niên sẽ trả tiền sau thì được hai nam thanh niên đồng ý. Sau đó, nam thanh niên ngồi sau xe có đưa cho H một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, mở ra bên trong có một túi nilon màu trắng, phần mép túi có viền kẻ màu đỏ bên trong túi có chất bột màu trắng, H biết là ma túy Heroin nên cầm cất vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc, sau đó hai nam thanh niên bỏ đi đâu thì H không rõ. Ngay sau đó, H bị tổ công tác Công an phường G phối hợp với Công an phường H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

* Tại cáo trạng số: 21/CT-VKSTT ngày 26/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Lò Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thấy ăn năn, hối cải.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Luận tội và đề nghị như sau:

  • - Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 20 tháng đến 26 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 04/01/2025.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  • - Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng đã qua sử dụng và 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh B.

  • - Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo (do bị cáo thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn).
  • *. Sau khi nghe bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa, mà thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là đúng như bản luận tội đã nêu.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên không có ý kiến tranh luận và bào chữa. Nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị, căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của của các cơ quan và người tiến hành tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2]. Nhận thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Lò Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng đã được thu hồi, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Hồi 21 giờ 10 phút ngày 03/01/2025, tại khu vực trước cổng khu phố N, phường G, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, Tổ công tác Công an phường G phối hợp với Công an phường H làm nhiệm vụ tuần tra đã phát hiện, bắt quả tang Lò Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,3179 gam; Là ma túy; Loại ma túy H3 tại túi áo khoác bên phải H đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện để về sử dụng, chứng tỏ bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành đã truy tố.

[3]. Về nhân thân, tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Nhận thấy, bị cáo phạm tội lần này khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, tính chất và mức độ tội phạm của bị cáo gây ra là nguy hại lớn cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc, phẫn nộ và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm tương ứng, cho bị cáo cách ly xã hội một thời gian, để có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng, răn đe phòng ngừa chung, không tạo ra tiền lệ xấu, ngăn chặn sự gia tăng loại tội phạm nguy hiểm này và góp phần làm trong sạch, lành mạnh đời sống xã hội và niềm tin vào pháp luật của nhân dân.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì còn có thể phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có thu nhập, bị nghiện ma túy và là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, cần: Tịch thu tiêu hủy: 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng đã qua sử dụng và 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh B.

- Còn đối với chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, biển số: 29T8-8347: Quá trình điều tra đã có đủ cơ sở xác định anh Trần Trung T là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô trên và không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ngày 03/01/2025, anh T không biết H sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Vì vậy, CQĐT Công an thị xã T (nay là Công an tỉnh B) đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh T và không xem xét xử lý là phù hợp. Do đó, không đề cập xem xét.

[6]. Về các vấn đề khác: Đối với 02 nam thanh niên bán ma túy cho H vào ngày 03/01/2025, do H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của hai nam thanh niên này và không nhớ đặc điểm, biển kiểm soát của xe mô tô hai nam thanh niên điều khiển. Vì vậy, CQĐT Công an thị xã T (nay là Công an tỉnh B) không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ. Do đó, không đề cập xem xét.

[7]. Về án phí: Do bị cáo thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1.2. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 20 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày 04/01/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo việc thi hành án.

2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng đã qua sử dụng và 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh B. Bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định” theo kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 05/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo (do bị cáo thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn).

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và cùng cấp;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp;
  • - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh,
  • Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Tuyến

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

 

Nguyễn Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger