Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS- ST

Ngày: 24-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Lê Đức Sơn.
  • 2/ Bà Lê Hoàng Mỹ Dung;

-Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Quảng- Kiểm sát viên.

Ngày 24/6/2025, tại phòng xử án- Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST-HS, ngày 02/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 9/6/2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Duy P, sinh năm 1995, tại: Bình Thuận

Nơi cư trú: Thôn 3, xã Nam Chính, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức P1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; có vợ là Huỳnh Thị Bích N (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo hiện tại ngoại; có mặt.

-Bị hại: Bà Đào Thị Thủy H, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người làm chứng có mặt tại phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 13/12/2024, Nguyễn Duy P, sinh năm 1995 đến Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận, để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm về ly hôn giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Bích N và bị đơn là bị cáo Nguyễn Duy P. Khoảng 10 giờ cùng ngày thì P về đến nhà. Lúc này, bà N và người em họ là Đào Thị Thủy H, sinh năm 1991 đến nhà P để đón con chung của bà N và P về. Khi bà N và bà H vào sân, thì giữa P với bà H, bà N có xảy ra cãi nhau, P dùng dép ném vào mặt bà H, bà H dùng nón bảo hiểm đánh P; P lấy 01 cây kéo cắt nhành cây cảnh để trên bàn chạy ra, bà H bỏ chạy và bị té xuống mương trước nhà. Phong cầm kéo chạy tới đâm 01 cái trúng vào vùng lưng bên trái của bà H.

Tại Kết luận giám định thương tật số 129/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 22/01/2025 của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh B kết luận thương tích của bà Đào Thị Thủy H: Sẹo vết thương phần mềm vùng lưng trái kích thước (0,7 x 0,6)cm, do vật sắc tác động theo chiều hướng từ sau ra trước. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 2%.

Vật chứng thu giữ: 01 cây kéo bằng kim loại (loại kéo cắt tỉa cây kiểng) dài 24cm, phần cán dài 13cm, phần mũi kéo dài 11cm; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng sọc đen, 01 áo khoát Jean màu xanh.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Duy P đã bồi thường cho bà H 3.000.000 đồng chi phí điều trị.

Theo Cáo trạng số 39/CT-VKSÐL-HS ngày 30/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh truy tố Nguyễn Duy P ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Linh để xét xử về tội: Cố ý gây thương tích, theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Phạt bị cáo Nguyễn Duy P từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Đề nghị tịch thu vật chứng là 01 cây kéo tiêu hủy. Trả lại 01 áo sơ mi, 01 áo khoát cho bà H.

Bị cáo: Không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại không có lý do. Tuy nhiên trong hồ sơ đã thể hiện đầy đủ ý kiến và quan điểm của bị hại về hành vi của bị cáo, việc vắng mặt bị hại không làm ảnh hưởng đến tính khách quan trong việc xét xử vụ án, nên xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về hành vi của của bị cáo: Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 13/12/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Duy P, sinh năm 1995, thuộc thôn C, xã N huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, có bà Huỳnh Thị Bích N và em họ bà N là bà Đào Thị T H đến yêu cầu bị cáo P giao con chung của bà N và bị cáo P cho bà N nuôi dưỡng theo quyết định của Tòa án, dẫn đến có sự cãi vã giữa bà N, bà H với bị cáo P. Bị cáo P đã có hành vi dùng cây kéo bằng kim loại dài 24cm, dùng để cắt tỉa cây kiểng, có mũi nhọn thuộc loại hung khí nguy hiểm, rượt đuổi bà H, khi bà H bị té ngã, bị cáo dùng kéo đâm 01 cái vào vùng lưng bà H. Theo kết luận giám định thương tích của Trung tâm Giám định pháp y tỉnh B xác định bà H bị vết thương phần mềm ở vùng lưng bên trái, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%. Sau đó bà H có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo P về hành vi của P. Do

đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm: Cố ý gây thương tích, với tình tiết định tội: Cố ý gây thương tích cho người khác, với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, nhưng thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện: Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe của người khác, làm mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tôi bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra bị cáo phạm tội trong hoàn cảnh: vợ chồng vừa mới ra Tòa án để giải quyết ly hôn, nên tâm lý của bị cáo buồn bả, cộng với lời nói và hành động thiếu chuẩn mực của bị hại (về vai vế trước đây thì bị hại kêu bị cáo bằng anh), nhưng: Xưng mày tao với bị cáo, dùng nón bảo hiểm đánh lại bị cáo. Từ đó cũng gây thêm bức xúc cho bị cáo và cũng một phần nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo; nên áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[5].Về quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo cần phải xử phạt để giáo dục, cải tạo để bị cáo thành công dân biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạm tội trong hoàn cảnh là bị cáo mới phiền cho bị cáo; bị cáo hiện có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nếu không cách ly bị cáo thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo là được.

[6]. Về vật chứng trong vụ án: Đối với 01 cây kéo dài 24cm, bằng kim loại là hung khí bị cáo dùng vào việc phạm tội không có giá trị lớn, nên tích thu tiêu hủy; 01 áo sơ mi và 01 áo khoát là tài sản của bà H, nên trả lại cho bà H.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Thiệt hại về sức khỏe của bà H do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, bị cáo và bà H thỏa thuận bồi thường xong, nên không xem xét trong bản án này.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[9] Về hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Kể từ khi tiếp nhận tin báo về tội phạm cho đến khi ban hành kết luận điều tra, Điều tra viên thực hiện hành vi tố tụng, ban hành các văn bản tố tụng đúng thẩm quyền, đúng thời hạn và đúng trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự; thực hiện các hoạt động điều tra đúng luật định. Đối với Kiểm sát viên trong quá trình giám sát các hoạt động ở giai đoạn điều tra thực hiện đúng thẩm quyền. Trong giai đoạn truy tố Kiểm sát viên tiến hành hoạt động tố tụng đúng thẩm quyền và trình tự tố tụng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố không có sự khiếu nại gì.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án, theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134, điểm a khoản 1 Điều 47, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 155, Điều 292, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

1. Tuyên bố: Nguyễn Duy P phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Duy P 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 24/6/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Duy P cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cái kéo bằng kim loại dài 24cm, màu đen, phần cán dài 13cm, phần lưỡi (mũi) kéo dài 11cm (loại kéo dùng cắt tỉa cây kiểng). Trả lại cho bà Đào Thị Thủy H: 01 áo sơ mi màu trắng dài tay, sọc đen, 01 áo khoát jean màu xanh (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/6/2025).

3. Về án phí: Nguyễn Duy P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (24/6/2025); bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án được hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới, theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh
  • -VKSND huyện Đức Linh
  • -CQTHAHS, Bộ phận Hồ sơ – Công an huyện
  • -TTLLTP-QG,
  • -Chi cục THADS huyện Đức Linh
  • -Bị cáo, bị hại, người bào chữa (nếu có)
  • -Lưu hồ sơ vụ án + Văn Phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS- ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 44/2025/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do bị hại đến nhà bị cáo và có hành vi xúc phạm bị cáo, nên bị cáo dùng kéo đâm bị hại gây thương tích 2%.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger