TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HOÁ -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -------- |
Bản án số: 44/2025/HS-ST | |
Ngày: 22-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Thị Hằng
- 2. Bà Nguyễn Thị Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND khu vực 1- Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang – Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa xét xử sơ thẩm sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST - HS ngày tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C- Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Số nhà H Đ, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cấp: Cục C4 về trật tự xã hội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Lê Thị K; vợ: Hoàng Thị T; con: 01 sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: 04/9/2025, tạm giam: 13/9/2025. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Thanh Hóa - Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Thị V- Sinh năm 1989; Nơi đăng ký thường trú: Số nhà D D, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Số nhà A T, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nơi cấp: Cục C4 về trật tự xã hội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công Đ và bà Vũ Thị P; chồng: không; con: 06, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: 04/9/2025, hủy bỏ: 13/9/2025. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ ngày 03/9/2025, nhận được tin phản ánh của quần chúng nhân dân tại số nhà A N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa có việc nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, Tổ công tác Công an phường Đ, tỉnh Thanh Hóa đến xác minh. Tại đây, Lê Bá C1, sinh năm 1992, trú tại số nhà A N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa khai nhận trước đó có sử dụng trái phép chất ma túy loại hồng phiến một mình tại nhà. Tổ công tác thu giữ 01 chai nhựa màu trắng trên thân chai đục 01 lỗ nhỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu xanh là dụng cụ Lê Bá C1 dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
Về nguồn gốc ma túy: Lê Bá C1 khai mua của Nguyễn Văn C vào các ngày 31/8/2025 và ngày 02/9/2025.
Ngày 04/9/2025, Nguyễn Văn C và Lê Thị V đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đầu thú giao nộp 02 điện thoại di động; Nguyễn Văn C tự nguyện giao nộp 10 viên nén hình tròn, màu đỏ.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C và Lê Thị V nhưng không thu giữ được gì.
Tại Cơ quan CSĐT, các bị cáo khai nhận: Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Lê Thị V và C bàn bạc thống nhất với nhau cùng bán ma túy loại hồng phiến để kiếm lời, số tiền thu được từ việc bán ma túy sẽ chi tiêu sinh hoạt chung. Lê Thị V sẽ tìm mối mua ma túy, còn C là người tìm khách để bán ma túy. Tiền lời từ việc bán ma túy sẽ được chuyển vào số tài khoản 10001386705, Ngân hàng T3 của C nhưng do V quản lý và sử dụng.
Sau khi thống nhất với Nguyễn Văn C, ngày 26/8/2025, tại khu vực gầm cầu H, thuộc địa bàn phường H, tỉnh Thanh Hóa, Lê Thị V mua của một người xưng tên H (không biết rõ nhân thân, lai lịch) 47 viên ma túy hồng phiến với số tiền 3.000.000₫.
Từ ngày 31/8/2025 đến ngày 02/9/2025, Nguyễn Văn C và Lê Thị V đã 03 lần bán trái phép chất ma túy, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/08/2025, Lê Bá C1 liên lạc từ tài khoản messenger "Lê Anh C2" đến tài khoản messenger "Chí Cường" của Nguyễn Văn C hỏi mua 10 viên ma túy loại hồng phiến. Nguyễn Văn C đồng ý báo giá 1.400.000₫ và yêu cầu Lê Bá C1 chuyển tiền trước vào tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Văn C. Sau đó, Nguyễn Văn C nói lại việc có khách hỏi mua ma túy với Lê Thị V và dặn V khi nào khách chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng thì đưa ma túy để Nguyễn Văn C đi giao cho khách. Sau khi Lê Bá C1 chuyển đủ tiền, Nguyễn Văn C hẹn Lê Bá C1 đến khu vực gần Trường tiểu học N, phường H, tỉnh Thanh Hóa để giao dịch. Sau khi thỏa thuận với Lê Bá C1, Nguyễn Văn C một mình đi bộ đến trước cửa nhà V, V đưa cho Nguyễn Văn C 01 gói giấy bạc chứa 10 viên ma túy hồng phiến (dạng viên nén màu đỏ, hình tròn) để Nguyễn Văn C bán ma túy cho Lê Bá C1. Sau khi mua được ma túy, Lê Bá C1 mang về phòng ngủ của C1 tại số nhà A N, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa một mình sử dụng hết bằng hình thức hút.
Lần thứ hai: Ngày 02/09/2025 Lê Bá C1 tiếp tục liên lạc với Nguyễn Văn C để hỏi mua 02 lần ma túy hồng phiến. Cụ thể, lần thứ nhất, Lê Bá C1 mua 17 viên ma túy hồng phiến với giá 2.500.000đ, lần thứ hai mua 10 viên ma túy hồng phiến với giá 1.400.000đ. Cả hai lần Nguyễn Văn C đều yêu cầu Lê Bá C1 chuyển số tiền mua ma túy vào tài khoản của Nguyễn Văn C rồi hẹn ra khu vực gần Trường tiểu học N, phường H, tỉnh Thanh Hóa để nhận ma túy.
Sau khi mua được ma túy, Lê Bá C1 mang về nhà để sử dụng. Đến 09 giờ ngày 03/09/2025, khi C1 vừa sử dụng xong ma túy hồng phiến tại nhà thì bị Công an phường Đ, Công an tỉnh T phát hiện, lập biên bản.
Kết luận giám định số 3397/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Lê Bá C1.
Kết luận giám định số 3396/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh T kết luận: 10 (mười) viên nén hình tròn màu đỏ trong gói giấy bạc thu giữ của Nguyễn Văn C có tổng khối lượng là 0,977g (không phảy chín bảy bảy gam), là ma túy loại Methamphetamine.
Về thu giữ đồ vật, xử lý vật chứng:
- 01 vỏ chai nhựa màu trắng, trên thân chai đục 01 lỗ nhỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu xanh - là dụng cụ Lê Bá C1 dùng để sử dụng trái phép chất ma túy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A03 màu đen, số Imei: 351027671002978, bên trong gắn thẻ sim thuê bao: 0981543622; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, số Imei 354838096877829, bên trong gắn thẻ sim thuê bao: 0926720309.
Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
Cáo trạng số 37/CT-VKSKV1 ngày 18/112025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (THNS) của từng bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 5; Điều 38 của BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: miễn phạt tiền cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ. Truy thu để tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.300.000₫ từ hai bị cáo, chia phần mỗi bị cáo 2.650.000đ; Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ sử dụng ma túy. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với lời khai của các bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Do cần tiền để tiêu sài cá nhân, Nguyễn Văn C và Lê Thị V đã thỏa thuận thống nhất với nhau đi mua ma túy để bán kiếm lời. Vào các ngày, 31/8/2025 và 02/9/2025, V và C đã 03 lần bán trái phép chất ma túy loại hồng phiến cho Lê Bá C1 với tổng số tiền 5.300.000đ. Ngày 03/9/2025, tại nhà Lê Bá C1, sau khi C1 sử dụng xong ma túy thì bị Tổ Công tác Công an phường Đ, Công an tỉnh T phát hiện, thu giữ toàn bộ dụng cụ mà C1 dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Văn C đã tự nguyện giao nộp 0,977g ma túy loại Methamphetamine còn lại với mục đích bán kiếm lời.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Bá C3, Lê Thị V đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 251 của BLHS như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Đối với người đã bán ma túy cho Lê Thị V: V không biết nhân thân, lai lịch người bán ma túy cho mình nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở xác minh, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Bá C1. Quá trình điều tra xác định, Lê Bá C1 không thuộc diện người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; C1 không thuộc diện trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết hết thời hạn sau cai nghiện ma túy. Vì vậy, Lê Bá C1 không phạm tội "sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại điều 256a Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Cơ quan CSĐT điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Bá C1 về hành vi "sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ.
[3]. Tính chất vụ án: Trong vụ án này được đánh giá hành vi của các bị cáo có tính đồng phạm bởi vì khi thực hiện các bị cáo cùng bàn bạc thống nhất mua ma túy về bán lại kiếm lời và cùng được hưởng lợi từ việc bán ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Trách nhiệm hình sự:
Tính tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan pháp luật các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú, các tình tiết giảm nhẹ áp dụng cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo V có thêm tình tiết giảm nhẹ có 03 con nhỏ trở lên đều dưới 15 tuổi theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có bố được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, sớm trở thành người lương thiện. Tuy nhiên, bị cáo V có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi xem xét mức hình phạt bị cáo V thấp hơn bị cáo C1 là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này các bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn C, Lê Thị V là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, số tiền 5.300.000đ là tiền do phạm tội mà có, số ma túy còn lại sau giám định, 01 vỏ chai nhựa màu trắng, trên thân chai đục 01 lỗ nhỏ có gắn ống hút bằng nhựa màu xanh là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, cần áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 của BLTHS; Điều 47 BLHS để truy thu tịch thu nộp ngân sách Nhà nước và tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
[7]. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b Khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 17; Điều 58 của BLHS; Khoản 1, 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; Điều 47 BLHS; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án (áp dụng cho hai bị cáo).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 điều 251 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính Phủ.
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 08 (Tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2025.
2. Bị cáo Lê Thị V 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/9/2025 đến ngày 13/9/2025.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V mỗi bị cáo số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại di động, thu giữ của Nguyễn Văn C, Lê Thị V; Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong của Phòng K1 kèm các chữ ký, chữ viết của Lê Minh T2, Nguyễn Thị Thu H; 01 vỏ chai nhựa màu trắng, trên thân chai có gắn ống hút bằng nhựa màu xanh.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 35/2025/KV1 ngày 21/11/2025.
Truy thu từ bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V mỗi bị cáo số tiền 2.650.000₫ để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Thị V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 22/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
