Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ LONG KHÁNHĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày: 27-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thế Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Thế Nam – Cán bộ hưu trí.
  • Bà Nguyễn Thị Kim Phương – Chuyên viên Phòng GD&ĐT TP. Long Khánh.

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 07/TB-TA ngày 11 tháng 3 năm 2025, đối với:

– Các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn C, (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ E, khu phố A, phường X (nay là khu phố A, phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 và bà Trương Thị Bảo C1, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em (bị cáo là con lớn nhất) và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ).

2. Họ và tên: Lê Đồng S (tên gọi khác: Không), sinh năm 1999, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số B, Trình Hoài Đại, khu phố A, phường X (nay là khu phố A, phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Lê Phong P, sinh năm 1959 và bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1967; Gia đình có 04 anh chị em (bị cáo là con út) và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ).

3. Họ và tên: Nguyễn Thị T1 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997, tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: Tổ H, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú hiện nay: Nhà trọ thuộc khu phố B, phường X (nay là phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, có chồng là Nguyễn Thành T2, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2019 và nhỏ nhất sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân trại tạm giam khu vực thành phố L thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ). Đến ngày 04/12/2024 thì bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình Bảo L.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Văn T3, sinh năm 1980 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ liên hệ: 187 N, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị X, sinh năm 1961.

Địa chỉ cư trú hiện nay: Tổ A, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo và người bào chữa cho bị cáo T1 có mặt còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị T1 và Lê Đồng S có mối quan hệ quen biết nhau từ trước, cùng là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, hình thức và loại ma tuý sử dụng là hút ma tuý loại Ketamine.

Khoảng 20 giờ ngày 06/8/2024, C, T1 và S cùng nhau ăn uống tại quán G thuộc khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, C rủ S về phòng trọ của T1 tại khu phố B, phường X (nay là phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai để cùng sử dụng ma tuý và S đồng ý. C, S bàn bạc thống nhất với nhau là S bắt taxi về phòng trọ của T1 trước. C và T1 đi mua ma túy rồi về sau. Lúc này T1 không biết gì về việc C rủ S về phòng trọ của mình để sử dụng ma túy. C dùng điện thoại của mình để gọi điện tới số điện thoại 0911.864.xxx (số điện thoại do bạn bè ngoài xã hội giới thiệu cho C) để hỏi mua ma túy và được hẹn giao ma túy tại hẻm gần quán C2 thuộc ấp B, xã B, thành phố L. Sau đó. C điều khiển xe Vario màu trắng, biển số 60B2-71257 chở T1 đến điểm hẹn. C để T1 trước quán C2 rồi đi bộ vào trong hẻm gặp một thanh niên (không rõ nhân thân, lý lịch), C đưa cho người này 1.000.000 đồng và nhận 01 bịch nylon chứa ma tuý Khay và 01 bịch nylon chứa 01 viên thuốc lắc màu vàng. C cất giấu ma túy trong người rồi chở T1 về phòng trọ. Khi về đến phòng trọ thì T1 thấy S đã chờ sẵn ở ngoài và đồng ý cho S vào phòng để cùng sử dụng ma túy. Tại đây C lấy 01 bịch nylon chứa ¼ viên thuốc lắc và 01 bịch ma tuý Khay ra đề xuống sàn nhà. S tự lấy viên thuốc lắc bẻ làm đôi và sử dụng ½ viên, còn ½ để lại vào 01 bịch nylon. C bật loa đèn (loa đèn do C đã chuẩn bị sẵn), lấy bịch ma tuý Khay đổ một ít ra đĩa sứ nấu cà nhuyễn, kẻ đường, lấy tờ tiền pholyme mệnh giá 20.000 đồng làm ống hít. Sau đó C, T1, S cùng nhau sử dụng. Trong quá trình sử dụng thấy ma tuý K còn ít. C nói S góp 500.000 đồng để mua thêm ma tuý Khay về sử dụng và bàn bạc hết bao nhiều tiền thì mai cả hai sẽ chia đều cho S và C. Sau đó, S đưa cho C 500.000 đồng. C gọi điện cho nam thanh niên trước đó, hỏi mua thêm 3.000.000 đồng ma tuý K và yêu cầu người bán ma tuy giao trên đường K thuộc khu phố B, phương X, thành phố L. Sau đó C chạy xe Vario màu trắng, biển số 60B2-71257 ra mua được 01 bịch ma tuý Khay với giá 3.000.000 đồng. C mang về phòng trọ của T1 cất giấu 01 bịch ma tuý Khay vừa mua được, cùng 01 bịch ma tuý Khay nhỏ và ½ viên thuốc lắc dưới gầm tủ nhựa đựng quần áo sát chỗ 03 người đang sử dụng ma tuý, rồi C tiếp tục cùng S, T1 sử dụng số ma túy Khay trên đĩa sứ.

Đến khoảng 01 giờ 15 ngày 07/08/2024. Công an thành phố L kiểm tra phòng trọ của T1 thì bắt quả tang C, S và T1 đang tổ chức sử dụng ma tuý. Công an thành phố L thu giữ 01 đĩa sứ bên trên có một ít ma tuý Khay chưa sử dụng hết (được gom lại cho vào 01 bịch nylon), 01 tờ 20.000 đồng quấn tròn, 01 thẻ nhựa, 01 loa, 01 đèn Laer. Trong lúc này, C tự lấy dưới gầm tủ nhựa đựng quần áo ngay chỗ 03 người ngồi ra 02 bịch nylon chứa ma tuý Khay và 01 bịch nylon chứa ½ viên thuốc lắc màu vàng ra giao nộp. Công an thành phố L niêm phong, thu giữ tang vật có liên quan, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, T1, S.

Quá trình điều tra, ban đầu S khai nhận việc C nói với S góp tiền mua thêm ma tuý về sử dụng nên S đã đồng ý góp số tiền 500.000 đồng. Sau đó, S thay đổi lời khai và cho rằng S cho C mượn số tiền 500.000 đồng và không biết C sử dụng số tiền đó vào mục đích mua thêm ma tuý về cùng nhau sử dụng. Việc thay đổi lời khai của S là không phù hợp với tình tiết, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo Kết luận giám định số 1577/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ: Số thu giữ trên đĩa sứ (kí hiệu M1) là ma tuý, loại Kentamine, khối lượng 0,1350 gam; 01 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M21) là ma tuý loại Ketamine khối lượng 0,2298 gam; 01 bịch nylon chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M22) là ma tuý loại Ketamine khối lượng 1,9943 gam; số chất bột dạng nén màu vàng (kí hiệu M23) là ma tuý loại MDMA khối lượng 0,1609 gam.

Trong quá trình Điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Thị T1 đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Ông nội, ông ngoại của bị cáo T1 là người có công với cách mạng. Bị cáo Lê Đồng S không thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng thu giữ, xử lý:

  • 03 bịch nylon chứa Ketamine sau giám định còn 2,1780 gam (số ma tuý loại MDMA đã hết trong quá trình giám định) được niêm phong trong phong bì số 1577/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ;
  • 01 đĩa sứ màu trắng tròn;
  • 01 thẻ nhựa hình chữ nhật;

Đây là những vật chứng cấm lưu hành, liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tích thu tiêu huỷ.

01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn C dùng để liên lạc mua ma tuý;

01 bộ Loa màu đen;

01 đèn Laer;

01 tờ pholyme mệnh giá 20.000 đồng.

Đây là những vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội nhưng có giá trị sử dụng nên đề nghị tích thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu hồng (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám (đã qua sử dụng) thu giữ của Lê Đồng S. Do không liên quan đến hành vi phạm tội của T1 và S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho gia đình T1 và S.

+ Đối với 01 xe máy Honda hiệu Vario (màu trắng), biển số 60B2-71257 Nguyễn Văn C sử dụng đi mua ma tuý vào ngày 06/8/2024. Qua xác minh xác định vào tháng 02/2020, bà Trương Thị Bảo C1 (là mẹ ruột của C) mua với giá 57.000.000 đồng tại Salon T trên đường H thuộc khu phố E, phường X, thành phố L. Sáu đó, bà C1 cho C đứng tên đăng ký giấy chứng nhận để tiện cho việc đi lại và phụ giúp gia đình trong quá trình buôn bán. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại chiếc xe trên cho bà Trương Thị Bảo C1, sinh năm 1975; nơi thường trú: Khu phố A phường X (nay là khu phố A, phường X), thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Đối với bà Võ Thị X, sinh năm 1961 là chủ nhà trọ của bị cáo T1 đã kịp thời phát hiện dấu hiệu vi phạm của các bị cáo và trình báo cơ quan chức năng xử lý nên không có hành vi vi phạm pháp luật.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho C, sử dụng số điện thoại 0911.864.xxx thì nhà cung cấp dịch vụ Vinaphone không cung cấp được thông tin chủ sở hữu do sim ở trạng thái chưa kích hoạt. Do đó, cần tiếp tục xác minh, nếu phát hiện đối tượng vi phạm sẽ xử lý sau.

Tại cáo trạng số 13/CT-VKSLK ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ, vai trò và hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; đồng thời nêu nên các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để HĐXX xem xét, áp dụng khi Quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Trên cơ sở đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Đồng S và Nguyễn Thị T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C với mức án từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Lê Đồng S với mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 với mức án từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho C, sử dụng số điện thoại 0911.864.xxx thì nhà cung cấp dịch vụ Vinaphone không cung cấp được thông tin chủ sở hữu do sim ở trạng thái chưa kích hoạt. Do đó, cần tiếp tục xác minh, nếu phát hiện đối tượng vi phạm sẽ xử lý sau.

Đối với bà Võ Thị X, sinh năm 1961 là chủ nhà trọ của bị cáo T1 đã kịp thời phát hiện dấu hiệu vi phạm của các bị cáo và trình báo cơ quan chức năng xử lý nên không có hành vi vi phạm pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị.

+ Tịch thu tiêu huỷ: 03 bịch nylon chứa Ketamine sau giám định còn 2,1780 gam (số ma tuý loại MDMA đã hết trong quá trình giám định) được niêm phong trong phong bì số 1577/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 đĩa sứ màu trắng tròn và 01 thẻ nhựa hình chữ nhật.

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn C dùng để liên lạc mua ma tuý; 01 bộ Loa màu đen; 01 đèn Laer và 01 tờ pholyme mệnh giá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu thu tiền ngày 09/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Long Khánh).

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu hồng (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám (đã qua sử dụng) thu giữ của Lê Đồng S. Do không liên quan đến hành vi phạm tội của T1 và S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho gia đình T1 và S là phù hợp.

Đối với 01 xe máy Honda hiệu Vario (màu trắng), biển số 60B2-71257 Nguyễn Văn C sử dụng đi mua ma tuý vào ngày 06/8/2024. Qua xác minh xác định vào tháng 02/2020, bà Trương Thị Bảo C1 (là mẹ ruột của C) mua với giá 57.000.000 đồng tại Salon T trên đường H thuộc khu phố E, phường X, thành phố L. Sau đó, bà C1 cho C đứng tên đăng ký giấy chứng nhận để tiện cho việc đi lại và phụ giúp gia đình trong quá trình buôn bán. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại chiếc xe trên cho bà Trương Thị Bảo C1, sinh năm 1975; nơi thường trú: Khu phố A phường X (nay là khu phố A, phường X), TP ., tỉnh Đồng Nai là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Luật sư bào chữa cho bị cáo T1 trình bày quan điểm bào chữa: Thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp đối với bị cáo. Đồng thời trình bày nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc bị cáo bị C rủ rê, lôi kéo; trong vụ án này bị cáo là đồng phạm với vai trò giúp sức thứ yếu; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tố (phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự) gia đình bị cáo có ông bà nội ngoại tham gia kháng chiến và có công với cách mạng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (đã ly hôn, hiện là lao động chính đang phải nuôi 02 con nhỏ). Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất của khung hình phạt.

- Bị cáo T1 thống nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư và không có ý kiến tranh luận bổ sung gì thêm.

- Bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.

- Bị cáo S thừa nhận có đưa cho bị cáo C số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng nhưng do đã nhậu trước đó, lại sử dụng ma tuý và nhạc to nên không rõ là C nói góp tiền để đi mua ma tuý về tiếp tục sử dụng chung. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai. Do đó, bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Trong phần phát biểu lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội khắc phục lỗi lầm của bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm và Điều luật truy tố:

[2.1] Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo trong quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên toà; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định: Các bị cáo C, S và T1 có quen biết nhau, đều là người sử dụng trái phép chất ma tuý. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Nguyễn Văn C đã rủ Lê Đồng S đến phòng trọ của Nguyễn Thị T1 tại nhà không số thuộc khu phố B, phường X (nay là phường X) thành phố L, tỉnh Đồng Nai để sử dụng ma tuý. T1 đã đồng ý cho C và S cùng sử dụng ma tuý tại phòng trọ của mình. Khi đến phòng trọ của T1, C đã cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng ma tuý để C, S, T1 cùng sử dụng. Tại đây, S đã góp 500.000 đồng để C mua thêm ma tuý về sử dụng. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 07/8/2024, khi C, S và T1 đang thực hiện hành vi tổ chức cho nhau cùng sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

[2.2] Tại phiên tòa các bị cáo C và T1 đều thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Riêng bị cáo S ban đầu không thừa nhận đã góp 500.000 đồng để C mua thêm ma tuý về sử dụng. Xét thấy lời khai này của bị cáo S không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án. Bởi lẽ: Khi C rủ về phòng trọ của T1 sử dụng ma tuý thì S đồng ý ngay và tự bắt xe taxi về trước đợi C và T1. Bị cáo cho rằng “C mượn số tiền 500.000 đồng và không biết C sử dụng vào mục đích mua thêm ma tuý về cùng nhau sử dụng” nhưng không được C thừa nhận và ngoài lời khai này bị cáo cũng không có tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Bị cáo đưa số tiền 500.000 đồng cho bị cáo C vào thời điểm mà bị cáo cùng với C, T1 đã và đang sử dụng ma tuý chung (giữa đêm, rạng sáng), bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực để nhận thức được đó là tiền góp với mục đích để C đi mua thêm ma tuý về tiếp tục sử dụng. Hơn nữa trong quá trình Điều tra, truy tố bị cáo không bị ai ép cung, dùng nhục hình, lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện nhưng bị cáo nhất nhất trong lời khai của mình (ban đầu bị cáo thừa nhận đã góp 500.000 đồng để C mua thêm ma tuý về sử dụng; sau đó thì bị cáo lại khai cho C mượn số tiền 500.000 đồng và không biết C sử dụng vào mục đích mua thêm ma tuý về cùng nhau sử dụng; lúc lại khai do nhậu say và phê ma tuý không nhớ rõ C nói góp tiền mua ma tuý thêm hay mượn tiền để làm gì...).

Sau đó thì S thừa nhận có đưa cho bị cáo C số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng nhưng do đã nhậu trước đó, lại sử dụng ma tuý và nhạc to nên không rõ là C nói góp tiền để đi mua ma tuý về tiếp tục sử dụng chung. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.

[2.3] Từ những phân tích và nhận định trên có đầy đủ căn cứ xác định: Nguyễn Văn C là người có hành vi rủ rê, lôi kéo, cung cấp ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý cho S, T1 cùng sử dụng; Lê Đồng S là người có hành vi góp tiền cho C đi mua ma tuý với mục đích để cùng C và T1 sử dụng chung; Nguyễn Thị T1 là người có hành vi cung cấp địa điểm để cho C và S cùng thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung hình phạt là “Đối với 02 người trở lên”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo C là người có hành vi rủ rê, lôi kéo, cung cấp ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý cho S, T1 cùng sử dụng; Bị cáo S khi được rủ rê đã tích cực hưởng ứng và có hành vi góp tiền cho C đi mua ma tuý với mục đích để cùng C và T1 sử dụng chung; Bị cáo T1 là người có hành vi cung cấp địa điểm để cho C và S cùng thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo C giữ vai trò chính trong vụ án nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo cao hơn các bị cáo S và T1.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:

[4.1] Về các tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ: Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo C và T1 đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo S trong quá trình Điều tra, truy tố quanh co, chưa thành khẩn nhưng tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo. Các bị cáo đều có nhân thân tốt (phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự); bị cáo T1 có ông nội và ông ngoại là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân huy chương kháng chiến, hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn (đã ly hôn chồng và đang phải nuôi 02 con nhỏ). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo trong vụ án; căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các bị cáo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi xã hội mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, đấu tranh và phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 03 bịch nylon chứa Ketamine sau giám định còn 2,1780 gam (số ma tuý loại MDMA đã hết trong quá trình giám định) được niêm phong trong phong bì số 1577/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 đĩa sứ màu trắng tròn và 01 thẻ nhựa hình chữ nhật.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn C dùng để liên lạc mua ma tuý; 01 bộ Loa màu đen; 01 đèn Laer và 01 tờ pholyme mệnh giá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu thu tiền ngày 09/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Long Khánh).

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu hồng (đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Thị T1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám (đã qua sử dụng) thu giữ của Lê Đồng S. Do không liên quan đến hành vi phạm tội của T1 và S nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại cho gia đình T1 và S là phù hợp.

Đối với 01 xe máy Honda hiệu Vario (màu trắng), biển số 60B2-71257 Nguyễn Văn C sử dụng đi mua ma tuý vào ngày 06/8/2024. Qua xác minh xác định vào tháng 02/2020, bà Trương Thị Bảo C1 (là mẹ ruột của C) mua với giá 57.000.000 đồng tại Salon T trên đường H thuộc khu phố E, phường X, thành phố L. Sau đó, bà C1 cho C đứng tên đăng ký giấy chứng nhận để tiện cho việc đi lại và phụ giúp gia đình trong quá trình buôn bán. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại chiếc xe trên cho bà Trương Thị Bảo C1, sinh năm 1975; nơi thường trú: Khu phố A phường X (nay là khu phố A, phường X), TP ., tỉnh Đồng Nai là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về các vấn đề khác có liên quan:

Đối với đối tượng bán ma tuý cho C, sử dụng số điện thoại 0911.864.xxx thì nhà cung cấp dịch vụ Vinaphone không cung cấp được thông tin chủ sở hữu do sim ở trạng thái chưa kích hoạt. Do đó, cần tiếp tục xác minh, nếu phát hiện đối tượng vi phạm sẽ xử lý sau.

Đối với bà Võ Thị X, sinh năm 1961 là chủ nhà trọ của bị cáo T1 đã kịp thời phát hiện dấu hiệu vi phạm của các bị cáo và trình báo cơ quan chức năng xử lý nên không có hành vi vi phạm pháp luật.

[9] Về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Long Khánh: Xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về tội danh, điều luật truy tố, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo nên được chấp nhận.

[10] Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo T1: Về tội danh; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Đồng S và Nguyễn Thị T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Đồng S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến ngày 04/12/2024.

3. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 03 bịch nylon chứa Ketamine sau giám định còn 2,1780 gam (số ma tuý loại MDMA đã hết trong quá trình giám định) được niêm phong trong phong bì số 1577/KL-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ; 01 đĩa sứ màu trắng tròn và 01 thẻ nhựa hình chữ nhật.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 15 Promax màu trắng (đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn C dùng để liên lạc mua ma tuý; 01 bộ Loa màu đen; 01 đèn Laer và 01 tờ pholyme mệnh giá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu thu tiền ngày 09/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Long Khánh).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND TP. Long Khánh (2);
  • - Thi hành án (8);
  • - Công an tỉnh Đồng Nai (2);
  • - Bị cáo (3);
  • - Người có QLNV liên quan (1);
  • - Lưu VP-HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thế Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Đồng S và Nguyễn Thị T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024. - Xử phạt bị cáo Lê Đồng S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2024. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến ngày 04/12/2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger