|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HS-ST
Ngày: 26/02/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Sỹ Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Trung – Cán bộ hưu trí.
Bà Phạm Thị Lan – Cán bộ Hội khuyến học
huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia
phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 17/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 11/02/2025 đối với các bị cáo:
1. Vũ Tấn T, sinh ngày 07/6/2008 tại Bình Phước (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên cha: Vũ Tấn H, sinh năm 1979.
Họ và tên mẹ: Đỗ Thị Kim T1, sinh năm 1982.
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 và chưa có vợ con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 19/3/2023 bị Công an thành phố L xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 14/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
2. Vương Gia B, sinh ngày 15/5/2008 tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên cha: Vương Ngọc Duy T2, sinh năm 1982.
Họ và tên mẹ: Đinh Thị Tuyết N, sinh năm 1984.
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01 và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 14/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
3. Nguyễn Quốc T3, sinh ngày 05/7/2008 tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên cha: Nguyễn Quốc B1, sinh năm 1983.
Họ và tên mẹ: Vy Tuyết Thảo T4, sinh năm 1987.
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 14/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
4. Phạm Đức M, sinh ngày 23/4/2008 tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên cha: Phạm Văn H1, sinh năm 1972.
Họ và tên mẹ: Lã Kim D, sinh năm 1977.
Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03 và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/12/2024 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 25/12/2024; Ngày 10/02/2025 bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 39/2025/HS-ST ngày 10/02/2025).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T trong vụ án “Trộm cắp tài sản”.
5. Nguyễn Minh T5, sinh ngày 11/8/2008 tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo.
Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không.
Họ và tên cha: Nguyễn Văn D1, sinh năm 1978.
Họ và tên mẹ: Bùi Thị Mỹ V, sinh năm 1986.
Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 01 và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Tấn T: Ông Vũ Tấn H, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Kim T1, sinh năm 1982. Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vương Gia B: Ông Vương Ngọc Duy T2, sinh năm 1982 và bà Đinh Thị Tuyết N, sinh năm 1984. Cùng địa chỉ: Ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Quốc T3: Ông Nguyễn Quốc B1, sinh năm 1983 và bà Vy Tuyết Thảo T4, sinh năm 1987. Cùng địa chỉ: Số I ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Đức M: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1972 và bà Lã Kim D, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: Số F ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh T5: Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1978 và bà Bùi Thị Mỹ V, sinh năm 1986. Cùng địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa cho bị cáo T, B1, T3, M, T5: Bà Hồ Thị Xuân C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước trên mạng xã hội Facebook với nhóm của Trần Gia H2 nên Nguyễn Hải T6 đã nhắn tin cho nhóm bạn là Vương Gia B, Phạm Đức M, Vũ Hoàng Quốc D2 và Trần Hiếu T7 đến nhà của Nguyễn Hoàng Tấn P để bàn bạc đánh nhóm của Trần Gia H2. Vương Gia B đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển kiểm soát 60B7 – 706.72, mang theo 01 cây kiếm, Phạm Đức M điều khiển xe mô tô chở Vũ Hoàng Quốc D2 đến nhà của P. Khi cả nhóm tập trung lại thì thiếu hung khí, nên Phạm Đức M và Trần Hiếu T7 dùng điện thoại gọi cho Nguyễn Minh T5 hỏi mượn hung khí và rủ cùng đi đánh nhau. Lúc này T5 đang ngồi chung với Nguyễn Quốc T3 và Phan Gia H3 nên rủ cả H3 và T3 cùng tham gia tìm đánh nhóm của Trần Gia H2. Phạm Minh T8 dùng điện thoại gọi cho Vũ Tấn T rủ đi cùng và được T đồng ý đến cùng tham gia. T nhờ bạn chở đến khu vực sân bóng ấp T, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai, còn H3 điều khiển xe mô tô biển số 60AK – 188.51 chở theo Nguyễn Minh T5 và Nguyễn Quốc T3 về nhà của H3 ở ấp T, xã X lấy hung khí. Sau khi lấy được 05 con dao tự chế, H3 gói vào trong 01 tấm vải màu xanh đưa cho T3 và T5 ngồi sau ôm bọc vải chứa dao, còn H3 tiếp tục điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn ở sân bóng ấp T, xã X để đón T, sau đó nhóm cả 04 đối tượng cùng đi hợp lại với nhóm của Vương Gia B. Khi 04 đối tượng đến khu vực bưu điện xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì có Phạm Đức M điều khiển xe chở theo Trần Hiếu T7 đến đón và dẫn đường vào nhà của Nguyễn Hoàng Tấn P tại ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đến nơi, cả nhóm bàn bạc với nhau về việc tìm nhóm Gia H2 đánh. Phan Gia H3 mở bao vải chứa dao thì Nguyễn Minh T5, Nguyễn Quốc T3, Phan Gia H3, Vũ Tấn T, Phạm Đức M, Vương Gia B và Trần Hiếu T7 đến lấy mỗi người 01 con dao làm hung khí. Sau đó Phan Gia H3 cầm dao, điều khiển xe mô tô biển số 60AK – 188.51 chở theo phía sau Nguyễn Minh T5, Vũ Tấn T, Nguyễn Quốc T3 (đều cầm dao tự chế); Phạm Đức M điều khiển xe mô tô chở theo Vũ Hoàng Quốc D2 cầm theo dao tự chế; Vương Gia B điều khiển xe mô tô biển số 60B7 – 706.72 chở theo Nguyễn Hải T6 cầm dao tự chế; còn Trần Hiếu T7 cầm dao nhưng không có xe đi nên ở lại nhà P chờ. Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 11/8/2024 cả nhóm gồm 08 đối tượng cầm theo hung khí, đi trên 03 xe mô tô đi dọc Q 20 về hướng Đ, đến đoạn ấp G, G tìm nhóm của Trần Gia H2 nhưng không thấy, đồng thời thấy lực lượng công an đi tuần tra nên tản ra cất giấu hung khí rồi tập hợp tại quán C1 ở ấp G, xã G 3. Khi các đối tượng đang ngồi bàn cách tìm nhóm Trần Gia H2 thì nhóm của Trần Gia H2 chạy xe mô tô đi qua thách thức. Phạm Đức M, Nguyễn Minh T5, Vũ Hoàng Quốc D2, Nguyễn Hải T6, Phan Gia H3 cầm dao tự chế, đi trên 02 xe mô tô đuổi theo xe của nhóm Trầm Gia H4, còn Nguyễn Quốc T3, Vương Gia B, Vũ Tấn T đi lấy dao tự chế, chuẩn bị đuổi theo thì bị lực lượng Công an xã G, huyện T phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.
Về vật chứng vụ án: Thu giữ 01 kiếm (cán dài 28cm, lưỡi kiếm dài 45cm rộng 03cm); 03 dao tự chế (lưỡi dao hàn tuýp sắt dài từ 50cm đến 80cm) là hung khí các bị cáo chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội; 01 điện thoại di động hiệu iphone, màu trắng tạm giữ từ Vũ Tấn T, qua kiểm tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trao trả cho T; Đối với 01 xe mô tô biển số 60B7 – 706.72 là tài sản của bà Đinh Thị Tuyết N, sinh năm 1986, trú tại ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai và 01 xe mô tô biển số 60AK – 188.51 là tài sản của bà Vy Tuyết Thảo T4, sinh năm 1987, trú tại ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi bị cáo Vương Gia B và Nguyễn Quốc T3 tự ý lấy, dùng vào thực hiện hành vi phạm tội bà N và bà T4 không biết, Cơ quan điều tra Công an huyện T không thu giữ.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-TN ngày 07/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Tấn T từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
- - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 xử phạt bị cáo Vương Gia B từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 dến 16 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; Nguyễn Quốc T3 từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”;
- Nguyễn Minh T5 từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Quốc M1 từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
Đối với các đối tượng Vũ Hoàng Quốc D2 sinh ngày 12/3/2009 và Trần Hiếu T7, sinh ngày 12/8/2008, (cùng trú tại ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai); Nguyễn Hải T6 (sinh ngày 02/6/2009, trú tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai) và Phan Gia H3, (sinh ngày 04/8/2009, trú tại Tổ A, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) đã tham gia chuẩn bị hung khí, dùng mô tô truy tìm nhóm Trần Gia H2 cùng với các bị cáo Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Vũ Tấn T, Nguyễn Minh T5 và Phạm Đức M. Hành vi của các đối tượng D2, T7, T6, H3 đã có dấu hiệu của tội phạm, tuy nhiên các đối tượng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng.
- Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 tại phiên tòa: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát, thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo B, T3, T5 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo chưa đủ tuổi thành niên, hạn chế nhận thức, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, chưa hiểu được hậu quả gây ra nên dẫn đến hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đề nghị áp dụng điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 90, 91, 101 Bộ Luật hình sự, thống nhất mức hình phạt cho hưởng án treo đối với các bị cáo T5, B, T3, đối với mức hình phạt cho bị cáo T có phần nghiêm khắc. Đề nghị HĐXX xem xét giảm mức án thấp nhất cho các bị cáo, để có cơ hội sửa chữa, hòa nhập với cộng đồng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 khai nhận: Do có mâu thuẫn từ trước trên mạng xã hội, vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 11/8/2024, nhóm Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Vũ Tấn T, Nguyễn Minh T5 và Phạm Đức M cầm theo hung khí, đi trên 03 xe mô tô đi dọc Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai để tìm đánh nhóm của Trần Gia H2 thì bị Công an xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai kịp thời phát hiện ngăn chặn, xử lý theo quy định.
Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo lôi kéo, tụ tập nhau mang theo hung khí nguy hiểm để nhằm mục đích đánh gây thương tích, tổn hại sức khỏe cho người khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
Bị cáo Vương Gia B, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 có vai trò chính trong vụ án này, sau khi Nguyễn Hải T6 nhắn tin gặp mặt bàn bạc đi đánh nhau với nhóm Trần Gia H2, B đã chuẩn bị hung khí là 01 cây kiếm cùng M đến điểm hẹn, M là người rủ rê thêm Nguyễn Minh T5 cùng tham gia đánh nhau và chuẩn bị hung khí, sau đó T5 tiếp tục rủ thêm T và T3 cùng tham gia. Bị cáo Phạm Quốc M1 là người có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt tù về hành vi cố ý gây thương tích nên cần phải có hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Các bị cáo nhận thức được việc chuẩn bị hung khí nguy hiểm có thể gây thương tích cho người khác nhưng các bị cáo vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Các bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhưng xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải có hình phạt thật nghiêm để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do các bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt các bị cáo không quá ba phần tư mức phạt theo quy định tại Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Các bị cáo Nguyễn Quốc T3 và Vũ Tấn T là đồng phạm với các bị cáo B, M1, T5 trong vụ án này. Các bị cáo sau khi nghe T5 rủ đi đánh nhau nên đã tích cực đi cùng để tìm nhóm của Trần Gia H2 đánh. Hành vi của các bị cáo có thể gây thương tích cho người khác, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác và bị pháp luật cấm nhưng các bị cáo vẫn cố tình phạm tội nên cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Xét các bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên xem xét giảm nhẹ hình phạt, xử phạt các bị cáo không quá ba phần tư mức phạt theo quy định tại Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Đối với Vũ Hoàng Quốc D2, sinh ngày 12/3/2009 và Trần Hiếu T7, sinh ngày 12/8/2008, cùng trú tại ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nguyễn Hải T6, sinh ngày 02/6/2009, trú tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai và Phan Gia H3, (sinh ngày 04/8/2009, trú tại Tổ A, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đã tham gia chuẩn bị hung khí, dùng mô tô truy tìm nhóm Trần Gia H2 cùng với các bị cáo Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Vũ Tấn T, Nguyễn Minh T5 và Phạm Đức M. Hành vi của các đối tượng D2, T7, T6, H3 đã có dấu hiệu của tội phạm, tuy nhiên các đối tượng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quyết định xử lý hành chính đối với các đối tượng là đúng quy định.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017. Bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quôc T9, Nguyễn Minh T5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51.
[5] Về vật chứng vụ án: Thu giữ 01 kiếm (cán dài 28cm, lưỡi kiếm dài 45cm rộng 03cm); 03 dao tự chế (lưỡi dao hàn tuýp sắt dài từ 50cm đến 80cm) là hung khí các bị cáo chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu iphone, màu trắng tạm giữ từ Vũ Tấn T, qua kiểm tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trao trả cho T là đúng quy định; Đối với 01 xe mô tô biển số 60B7 – 706.72 là tài sản của bà Đinh Thị Tuyết N, sinh năm 1986, trú tại ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai và 01 xe mô tô biển số 60AK – 188.51 là tài sản của bà Vy Tuyết Thảo T4, sinh năm 1987, trú tại ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi bị cáo Vương Gia B và Nguyễn Quốc T3 tự ý lấy, dùng vào thực hiện hành vi phạm tội bà N và bà T4 không biết, Cơ quan điều tra Công an huyện T không thu giữ là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Ý kiến và đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 6 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tuyên bố các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Vũ Tấn T 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 14/8/2024.
- - Xử phạt bị cáo Vương Gia B 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 14/8/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T3 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 14/8/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T5 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án.
- Áp dụng khoản 6 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Quốc M1 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt 01 năm 04 tháng tù của Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh và của bản án này, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành hình phạt tù.
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 kiếm (cán dài 28cm, lưỡi kiếm dài 45cm rộng 03cm); 03 dao tự chế (lưỡi dao hàn tuýp sắt dài từ 50cm đến 80cm) là hung khí các bị cáo chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKS-TN ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất và Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Vũ Tấn T, Vương Gia B, Nguyễn Quốc T3, Phạm Đức M và Nguyễn Minh T5 mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Mai Sỹ Tuân |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Tấn T và đồng phạm phạm tội cố ý gây thương tích
