|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày: 18/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hữu Luân
2. Bà Nguyễn Thị Nhơn
-Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại phòng xử án, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu Nhà tạm giữ - Công an quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với:
Bị cáo Trần Minh H, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi thường trú: nhà số 86/26 đường Ngô Chí Quốc, Khu phố 20, phường Bình Chiểu, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn Nhỏ và bà Trương Thị Út; vợ là Huỳnh Thị Thanh Thảo; có 01 con sinh năm 2001; Anh, chị, em: Gia đình bị can có 04 anh chị em, bị can con thứ 02 trong nhà.
Tiền án, tiền sự: Không
Tạm giam từ ngày 23/8/2024.
+ Những người tham gia tố tụng khác:
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Lót, sinh năm 1953
Địa chỉ: 125/42/6 Bùi Đình Túy, phường 24, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh H làm nghề chạy xe ôm truyền thống tại khu vực Sóng Thần, Thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, Hải điều khiển xe mô tô màu đỏ, biển số: 94K1-5503 trên đường Quốc lộ 1A, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (gần khu vực Nhà thờ Khiết Tâm, phường Bình Chiểu, Thành phố Thủ Đức) thì thấy bà Nguyễn Thị Lót (sinh năm 1953) đang đứng, Hải dừng lại hỏi bà Lót đi đâu thì bà Lót nói muốn về bến xe Miền Đông, hai bên thỏa thuận với giá chở thuê là 100.000 đồng. Do không biết đường nên Hải nói bà Lót đưa điện thoại di dộng hiệu Samsung galaxy A13 màu đen của bà Lót để liên hệ với người nhà của bà Lót chỉ đường, sau đó chở bà Lót từ Quốc lộ 1A tới Quốc lộ 13 hướng về Bến xe Miền Đông, Phường 26, quận Bình Thạnh.
Khoảng gần 05 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến cây xăng đầu hẻm 153 Quốc lộ 13, Phường 26, quận Bình Thạnh thì Hải có gọi điện thoại lại cho người nhà bà Lót và thông báo đã chở đến gần khu vực bến xe Miền Đông, Hải chở bà Lót tới điểm đến là trước số 260A Quốc lộ 13, Phường 26 quận Bình Thạnh thì Hải dừng xe, Hải bỏ 2 túi đồ của bà Lót xuống đất rồi nói bà Lót xuống xe. Hải định trả điện thoại cho bà Lót và nói bà Lót trả tiền xe, bà Lót nói trả 70.000 đồng. Hải không đồng ý và bực tức vì bà Lót không chịu trả 100.000 đồng như thỏa thuận, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của bà Lót, khi bà Lót vừa bước xuống xe, Hải không trả lại điện thoại mà liền tăng ga bỏ chạy để chiếm đoạt điện thoại di dộng thì bị bà Lót tri hô. Khi đó có anh Thạch Minh đang điều khiển xe máy lưu thông trên đường chứng kiến sự việc liền đuổi theo đến gần giữa cầu Bình Triệu 1 thì đuổi kịp, giữ Hải lại giao Công an Phường 26, quận Bình Thạnh xử lý.
Tại cơ quan điều tra Trần Minh H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 338/KLĐGTS-TCKH ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 điện thoại Samsung Galaxy A13 màu đen dung lượng 4Gb trị giá 1.400.000 đồng.
Vật chứng:
- 01 xe mô tô Wave màu đỏ biển số 94K1-5503 là phương tiện Trần Minh H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, Hải khai nhận chiếc xe này được bạn tên Hiệp (không rõ lai lịch) cho Hải sử dụng cách đây 7 – 8 tháng, không có giấy tờ. Kết quả xác minh số khung, số máy: Bị mài, đục lại số, không xác định được số nguyên thủy biển số xe mô tô trên là của xe mô tô số loại: Trung Quốc, nhãn hiệu Wave, có số máy:VTTJL1P52FMH5002883, số khung: RRKWCHPUM5X002883, do anh Chung Bá Phát đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, anh Phát khai nhận trước đây anh Phát mua xe mô tô thanh lý với số lượng lớn từ 70-100 chiếc rồi
mang xe về sửa chữa sau đó đăng ký tên chủ sở hữu rồi bán lại cho cá nhân hoặc các cửa hàng xe mô tô, hiện anh Chung Bá Phát không nhớ đã bán xe mô tô trên cho ai, không còn sở hữu xe mô tô này, anh Phát không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên.
- 01 điện thoại di động Gold X6 màu đen là tài sản cá nhân của Trần Minh H.
- 01 áo thun tay dài màu xanh lá có chữ Gojek, 01 quần tây màu đen, 01 đôi dép da đen, 01 nón bảo hiểm có chữ Gojek là trang phục Trần Minh H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen là điện thoại Trần Minh H cướp giật của bà Nguyễn Thị Lót. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lót
Trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Lót đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSBTh ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị cáo Trần Minh H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Minh H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Minh H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
+ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Minh H hình phạt tù giam, với mức hình phạt từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 năm tù giam.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự 2015, xử lý vật chứng trong vụ án:
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước:
- 01 xe mô tô Wave màu đỏ biển số 94K1-5503 là phương tiện Trần Minh H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 áo thun tay dài màu xanh lá có chữ Gojek, 01 quần tây màu đen, 01 đôi dép da đen, 01 nón bảo hiểm có chữ Gojek là trang phục Trần Minh H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo:
- 01 điện thoại di động Gold X6 màu đen là tài sản cá nhân của Trần Minh H
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Lót đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì
3. Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
4. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, cũng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của bị hại, xét thấy tại giai đoạn điều tra bị hại đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Trần Minh H tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào lời khai nhận tội bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, Trần Minh H làm nghề chạy xe ôm truyền thống vì thấy bà Nguyễn Thị Lót muốn đi đến nhà con rể gần Bến xe Miền Đông và không nhớ đường Hải đã chở bà Lót, bà Lót đưa điện thoại của bà cho Hải để liên lạc với người nhà của bà Lót chỉ đường. Khi đến nơi (trước số 260A Quốc lộ 13 Phường 26 quận Bình Thạnh), Hải nóng giận vì bị hại không trả đúng tiền xe như đã thỏa thuận nên nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại đã yêu cầu bà Lót xuống xe rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy cầm theo điện thoại của bà Lót đến cầu Bình Triệu 1 thì bị người dân đuổi kịp bắt giữ cùng tang vật giao công an xử lý. Hành vi phạm tội của Trần Minh H đã cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 338/KLĐGTS-TCKH ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen có giá trị: 1.400.000 đồng.
Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hiệm hình sự:
[4.1] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để nhận biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật điện thoại của bị hại Nguyễn Thị Lót, đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang cho người dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tù giam là phù hợp, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật, đồng thời giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4.2] Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hành động phạm tội do nhất thời bộc phát. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo phần hình phạt. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với người đủ 70 tuổi trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015
[5] Về các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội và xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Vật chứng:
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước:
- 01 xe mô tô Wave màu đỏ biển số 94K1-5503 là phương tiện Trần Minh H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 áo thun tay dài màu xanh lá có chữ Gojek, 01 quần tây màu đen, 01 đôi dép da đen, 01 nón bảo hiểm có chữ Gojek là trang phục Trần Minh H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo:
- 01 điện thoại di động Gold X6 màu đen là tài sản cá nhân của Trần Minh H.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Lót đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Minh H 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Vật chứng:
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước:
- 01 xe mô tô Wave màu đỏ biển số 94K1-5503 là phương tiện Trần Minh H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 áo thun tay dài màu xanh lá có chữ Gojek, 01 quần tây màu đen, 01 đôi dép da đen, 01 nón bảo hiểm có chữ Gojek là trang phục Trần Minh H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo:
- 01 điện thoại di động Gold X6 màu đen là tài sản cá nhân của Trần Minh H (Tình trạng giao nhận vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2025 giữa Công an quận Bình Thạnh với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hồ Minh Thuận |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
