|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HS-ST
Ngày: 20-06-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Minh Tân.
- Ông Trần Văn Triều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hiếu Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Văn N; Tên gọi khác: (không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1982, tại thành phố Cần Thơ; Nơi thường trú: khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 2/12; Họ tên cha: Lưu Văn H, sinh năm 1953; Họ tên mẹ: Phạm Thị D, không rõ năm sinh (chết); Vợ: (không rõ); Bị cáo có 01 người con sinh năm 2003.
Tiền án: 02 lần: Ngày 16/3/2015, bị Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo bản án hình sự sơ thẩm số 13/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022, chưa nộp án phí sơ thẩm (chưa xoá án tích); Ngày 07/12/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/11/2024 (chưa xoá án tích).
- Đặc điểm nhân thân: Ngày 18/10/2000, bị Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Long (nay là thành phố V) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; Ngày 27/7/2001, bị Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/6/2004, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 11/9/2008, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ hình sự ngày 11/01/2025, đến ngày 20/01/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện C thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ;
Bị cáo có mặt tại phiên toà
Người bị hại: ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1966; cư trú: Khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt);
Người làm chứng: ông Đỗ Thu T, sinh năm 1980; cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Văn N là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng chưa được xoá án tích. Do không có việc làm ổn định nên N thường đến khu vườn của ông Nguyễn Văn N1 thuộc khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để xin tiền ông N1 tiêu xài.
Khoảng 09 giờ ngày 10/01/2025, N đang uống cà phê cặp tuyến Quốc lộ H thuộc khóm P, thị trấn C thì gặp bạn là Đỗ Thu T điều khiển xe mô tô biển số 66CA-090.64 đến nên N nhờ T chở đến khu vườn của ông N1 xin tiền. Khi đến nơi, T ở ngoài đợi còn N vào trong vườn tìm ông N1 nhưng không gặp ai. Nghi thấy trong sân vườn có 01 con gà mái trọng lượng 1,5kg đang úp trong bội nên bắt bỏ vào áo rồi ra xe nhờ T chở về lại quán cà phê. Sau đó, T đi về còn Nghi đón xe buýt đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Long bán con gà cho người đi đường, không rõ họ tên, đại chỉ được 100.000 đồng, số tiền này N dùng tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất gà, ông N1 xem lại camera thì phát hiện Nghi bắt trộm nên đến Công an thị trấn C trình báo sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận 01 con gà mái trọng lượng 1,5kg mà T bắt trộm của ông N1 có giá trị tài sản là 172.500₫
Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Lưu Văn N: 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi dài tay; 01 quần jean màu xanh là trang phục Nghi mặc lúc vào vườn ông N1 bắt trộm gà. Bị cáo N không yêu cầu nhận lại.
Tạm giữ của Đỗ Thu T 01 xe mô tô biển số 66CA-090.64, qua điều tra xác định xe do mẹ ruột của T là bà Nguyễn Thái H1 đứng tên sở hữu. Việc N vào vườn ông N1 bắt trộm gà T không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà H1 sử dụng.
Về dân sự: bị hại ông N1 không yêu cầu N bồi thường con gà bị mất trộm.
Đối với Đỗ Thu T không bàn bạc với N đi trộm gà. Do N nhờ T chở đến nhà người quen xin tiền nên T nghĩ con gà do người quen của N cho. Do đó, không xem xét xử lý đối với Đỗ Thu T.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSND ngày 05/06/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Lưu Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N với mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không không yều bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự tịch thu tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi dài tay; 01 quần jean màu xanh là trang phục của bị cáo N không còn giá trị sử dụng
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội theo nội dung bản Cáo trạng, và luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại không tranh luận, bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: bị cáo Lưu Văn N là người đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, ngày 10/01/2025 bị cáo N tiếp tục bắt trộm gà trị giá 172.5000đ của ông Nguyễn Văn N1 tại khóm P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì bị phát hiện.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích vụ lợi cá nhân, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác. Bị cáo đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, bị cáo nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật đối với tài sản của người khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại.
[3] Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.
Tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a).........
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội được quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”
[4] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem thường pháp luật, bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có tiền án lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giải nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự tịch thu tiêu huỷ những vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2025 (ngày tạm giữ).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự tịch thu tiêu huỷ 01 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo sơ mi dài tay; 01 quần jean màu xanh là trang phục của bị cáo N không còn giá trị sử dụng
(Các vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang quản lý).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lưu Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lâm Hoàng Huynh |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Nghi phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn Nghi 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2025 (ngày tạm giữ).
