Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày: 18-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thành Vân.
  2. Ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kim – Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần, phân trại tạm giam Sông M

- Những người tiến hành tố tụng:

  • + Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Thùy L, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
  • + Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ L1 – Kiểm sát viên.

- Những người tham gia tố tụng:

  • + Bị cáo: Lò Văn Q.
  • + Cán bộ chiến sỹ thuộc phân trại tạm giam Sông M: Ông Trịnh Thanh T, ông Lò Văn K.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu T Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Sông Mã, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 05/12/2025, đối với bị cáo:

Lò Văn Q, tên gọi khác: Không, sinh năm 1971; nơi cư trú: Bản P, xã N, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Lò Văn P và con bà: Lò Thị N (đều đã chết); sống chung như vợ chồng với Lò Thị X, sinh năm 1985 và Lò Thị T1, sinh năm 1976; con: Có 03 người con, (con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự không.

Nhân thân: Tại bản án số 158/2008/HSST ngày 25/8/2008 bị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Bị bắt giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Sông Mã từ ngày 14/8/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 14/8/2025, tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phòng, chống tội phạm ma tuý tại bản Ten Ư, xã C, Sơn La phát hiện, bắt quả tang Lò Văn Q đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa 23 viên nén màu hồng, thu trong túi quần bên phải phía trước đang mặc (Q khai nhận là hồng phiến). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 15/8/2025 tại tổ địa bàn khu vực Sông M, Công an tỉnh S tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng thu giữ nghi là ma tuý, kết quả: 23 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 2,22 gam, trích toàn bộ 23 viên có tổng khối lượng 2,22 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q.

Tại bản Kết luận giám định số 1000/KL-KTHS ngày 20/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu ký hiệu Q gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi là 2,22 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 2,22 gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình Điều tra xác định được như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 06 giờ ngày 14/8/2025, Lò Văn Q đem theo 300.000 đồng một mình đi bộ từ nhà đến bản T, xã C để tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đi đến đầu bản T, Q gặp một người đàn ông không quen biết nhìn giống người nghiện ma tuý nên Q đã chủ động hỏi mua ma tuý và đưa tiền 300.000 đồng cho người đàn ông này.

Người đàn ông đồng ý và cầm tiền đi đâu không rõ, khoảng 20 phút sau thì quay lại đưa cho Q 01 gói nilon màu xanh, bên trong chứa 23 viên nén màu hồng và 01 gói nilon màu xanh có ít bột Heroine trộn lẫn với hồng phiến. Quynh nhận lấy gói nilon chứa 23 viên hồng phiến cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, còn gói bột ma tuý Q đi vào bụi cây ven đường sử dụng hết. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, trên đường đi bộ về đến địa phận bản Ten Ư, xã C thì bị tổ công tác Công an xã C tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 43/CT-VKS-KV3 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La, truy tố Lò Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025).

Tại phiên toà:

- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là không oan sai.

- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025). Xử phạt bị cáo từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm 03 tháng tù. Bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn án phí cho bị cáo; vật chứng khác xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an tỉnh S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

- Hồi 13 giờ ngày 14/8/2025, bị cáo Lò Văn Q bị tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La bắt quả tang về hành vi cất giấu 23 viên nén màu hồng có khối lượng 2,22 gam - Theo kết luận giám định số 1000 ngày 20/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh S kết luận là chất ma túy, thuộc loại Methamphetamine. Mục đích bị cáo để sử dụng cá nhân.

- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến do công an xã C lập hồi 13 giờ ngày 14/8/2025. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn Q đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, việc khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân và cũng là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác tại địa phương.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có bố đẻ là ông Lò Văn P được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và căn cứ vào khối lượng ma tuý bị cáo, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

- Số ma túy thu giữ được trong vụ án, theo bị cáo khai mua được từ một người đàn ông không rõ lai lịch, tại khu vực bản T, xã C, tỉnh Sơn La nên cơ quan Điều tra không có cơ sở để Điều tra mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn Q, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác minh tại địa phương, kết quả Lò Văn Q không thuộc chủ thể một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ theo Luật số 86/2025/QH15). Do đó, không có căn cứ xử lý bị cáo tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 0,02 gam Methamphetamine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ý kiến bị cáo tại phiên tòa xin được miễn án phí. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền), đồng thời miễn án phí có bị cáo.

[8] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 86/2025/QH15).

    Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt: Lò Văn Q 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/8/2025.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu huỷ: Mẫu Q = 0,02 gam Methamphetamine (Hoàn lại mẫu giám định vụ Lò Văn Q), đựng trong 01 (một) phong bì thư niêm phong và 01 (một) phong bì thư niêm phong.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 35 ngày 19/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La và biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/11/2025 giữa Phòng THADS khu vực 3-Sơn La và Công an tỉnh S).

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 18/12/2025.

Nơi nhận:

  • -Toà án tỉnh Sơn La;
  • -VKS khu vực 3-Sơn La;
  • -Cơ quan THAHS tỉnh Sơn La;
  • -Cơ quan THADS khu vực 3 - Sơn La;
  • -Bị cáo;
  • -Công an tỉnh Sơn La;
  • -Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger