Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

Bản án số: 44/2025/HS-ST

Ngày 18 – 11 – 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Minh Thêu
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Vũ Thị Hương
Bà Nguyễn Thị Mai Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S (tên gọi khác: không), sinh ngày 30 tháng 9 năm 2002 tại Phú Thọ.

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1968, con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; Chưa có vợ con. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai chị em.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 03 Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Đỗ Đức T, sinh năm 1991; trú tại: tổ A, phường H, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; trú tại: tổ dân phố N, phường H, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 12/6/2025, Nguyễn Ngọc S, sinh năm 2002; trú tại: tổ dân phố N, phường H, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe mô tô BKS 98F1 – 374.03 chở người thân đi từ nhà đến khu vực quảng trường H chơi. Khi đến quảng trường, người thân của S xuống xe còn S điều khiển xe mô tô theo hướng đường C kéo dài – đường T. Khi đi đến đoạn đường gần Ngân hàng Nhà nước tỉnh H cũ, S quan sát thấy phía trước khoảng 15m-20m có Tổ công tác Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh H (nay là Công an tỉnh P), phối hợp với Công an cấp xã, phường đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát theo kế hoạch của đơn vị tại khu vực đường C kéo dài thuộc địa phận tổ E (phường Q cũ), phường H, tỉnh Phú Thọ; lúc này đồng chí Chu Anh Q, sinh năm 1983 là cán bộ phòng Cảnh sát giao thông (được giao nhiệm vụ dừng xe, kiểm soát con người, phương tiện, vận hành máy đo nồng độ cồn, đảm bảo an ninh trật tự quanh khu vực kiểm tra của tổ), tiến về phía S và ra hiệu lệnh bằng đèn, còi, gậy cao su yêu cầu S dừng xe kiểm tra theo đúng quy trình tuần tra kiểm soát. Do bản thân trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ giấy phép lái xe, lo sợ bản thân tiếp tục bị phạt nên S điều khiển xe quay đầu đi ngược về phía quảng trường Hòa Bình để bỏ chạy. Sau khi S điều khiển xe quay đầu, có 05 đồng chí trong tổ công tác di chuyển ra gần hết chiều rộng làn đường, sử dụng đèn pin, còi, gậy cao su ra hiệu lệnh yêu cầu S dừng xe nhưng S không chấp hành mà điều khiển xe mô tô tăng ga, lao về phía tổ công tác để bỏ chạy. Do điều khiển xe với tốc độ cao, không làm chủ được tay lái nên xe mô tô do S điều khiển bị đổ ngã xuống đường và rê, trượt sau đó đâm vào đồng chí Đỗ Đức T, sinh năm 1991, trú tại: tổ A, phường H, tỉnh Phú Thọ, là cán bộ Công an phường T, tỉnh Phú Thọ (được phân công nhiệm vụ hỗ trợ dừng phương tiện, kiểm tra người và phương tiện) khiến đồng chí T bị thương tích phải đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ. Sau khi sự việc xảy ra tổ công tác đã bàn giao Nguyễn Ngọc S và phương tiện đến Công an (phường Q cũ) phường H, tỉnh Phú Thọ để lập Biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và tiếp tục xác minh, làm rõ.

Tại phiếu đo nồng độ cồn hồi 22 giờ 30 phút ngày 12/6/2025 thể hiện: Nồng độ cồn 0,000 ng/L.

Tại biên bản xét nghiệm (test nhanh) chất ma túy hồi 22 giờ 35 phút ngày 12/6/2025 thể hiện: Nguyễn Ngọc Sơn dương T1 với chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 100/KLTTCT-TTPY ngày 18/6/2025 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế tỉnh H kết luận:

1. Các kết quả chính: - Vỡ xương chẩm, lan vào rảnh đỉnh chẩm phải; - Tụ máu nhu mô não; - Các vết xây sát.

2. Kết luận: - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Đức T tại thời điểm giám định là 38% (ba mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại bản Kết luận giám định số 5411/KL-KTHS ngày 12/8/2025 của V1 Bộ C1 kết luận: Dấu vết nghi máu thu tại mặt đường vị trí số 5 trên hiện trường được gửi giám định (ký hiệu M1) là máu người và là máu của Đỗ Đức T.

Tại bản Kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 25/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu máu của Nguyễn Ngọc S, sinh năm 2002; HKTT tổ dân phố N, P. T, TP H, tỉnh Hòa Bình (nay là phường H, tỉnh Phú Thọ) gửi đến giám định có cồn (ethanol). Nồng độ cồn trong máu là 95,163mg/100ml máu.

Tại bản Kết luận giám định số 904/KL-KTHS ngày 24/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu máu của Nguyễn Ngọc S, sinh năm 2002; HKTT tổ dân phố N, P. T, TP H, tỉnh Hòa Bình gửi đến giám định không có chất ma túy thường gặp (Heroin, Morphine, MDMA, Methaphetamine, Ketamine, 2C-B, TFMPP).

Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xám, BKS 98F1 – 374.03, số máy: JK2E0208599, số khung: RLHJK1219MZ008576 đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Nguyễn Ngọc S đã bồi thường cho bị hại Đỗ Đức T số tiền 50.000.000 đồng, anh T đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm.

Cáo trạng số 10/CT-VKSTPHB ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Phú Thọ truy tố Nguyễn Ngọc S về tội: Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét. Đề nghị giao chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xám, BKS 98F1 – 374.03, số máy: JK2E0208599, số khung: RLHJK1219MZ008576 đã qua sử dụng cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh P tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Ngọc S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an tỉnh H (nay là tỉnh Phú Thọ), Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình (nay là VKSND Khu vực 12, tỉnh Phú Thọ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 12/6/2025 tại khu vực đường C kéo dài thuộc địa phận tổ E (phường Q cũ), phường H, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Ngọc S điều khiển xe mô tô BKS 98F1- 374.03 đã không chấp hành hiệu lệnh yêu cầu dừng xe để kiểm tra của Tổ công tác Phòng C2 công an tỉnh H cũ (nay là Công an tỉnh P) phối hợp cùng Công an cấp xã, phường mà điều khiển xe quay đầu, sau đó tăng ga lao về phía tổ công tác để bỏ chạy, dẫn đến va chạm với đồng chí Đỗ Đức T khiến anh T bị tổn hại 38% sức khỏe.

Hành vi phạm tội của bị cáo được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 bộ luật Hình sự “gây tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”; trong đó điểm k khoản 1 Điều 134 quy định “Đối với người đang thi hành công vụ...”. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Ngọc S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được sức khỏe, tính mạng của người khác là quyền bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ, nhưng vì sợ bị Tổ công tác Công an giao thông kiểm tra người và phương tiện bị cáo vẫn cố tình không chấp hành hiệu lệnh mà tăng ga lao vào tổ công tác đang làm nhiệm vụ, dẫn đến va chạm với anh Đỗ Đức T cán bộ công an phường T, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ hậu quả anh T bị tổn thương 38% sức khỏe. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người đang thi hành công vụ do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự; bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ cho bị cáo; bản thân bị có đã có thời gian phục vụ trong quân ngũ; hiện tại bị cáo đang mắc bệnh ung thư tinh hoàn... đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho anh Đỗ Đức T số tiền 50.000.000 đồng, anh T không đề nghị bị cáo bồi thường thêm nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Nguyễn Thị H là người đã thay bị cáo bồi thường cho anh T số tiền 50.000.000 đồng, bà H không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn lại, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong máu có nồng độ cồn của Nguyễn Ngọc S theo Kết luận giám định số 915 ngày 25/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh P, cơ quan CSĐT công an tỉnh P đã chuyển hồ sơ đến Phòng C2 Công an tỉnh P để xử lý theo quy định nên HĐXX không xem xét.

Đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong cơ thể có chất ma túy theo Biên bản xét nghiệm (test nhanh) chất ma túy hồi 22 giờ 35 phút ngày 12/6/2025 của Nguyễn Ngọc S, quá trình điều tra xác định: Theo bản Kết luận giám định số 904 ngày 24/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh P trong mẫu máu thu của Nguyễn Ngọc S không tìm thấy các chất ma túy thường gặp, do đó chưa có đủ căn cứ để xử lý.

[7] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xám, BKS 98F1 – 374.03, số máy: JK2E0208599, số khung: RLHJK1219MZ008576 đã qua sử dụng. Xét thấy nguồn gốc chiếc xe không rõ ràng, nên cần giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội: Cố ý gây thương tích.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định:

- 01 (một) chiếc xe máy dán nhãn hiệu Honda Lead; màu sơn xám, gắn biển kiểm soát: 98F1-374.03; phần khung có số: RLGJK1219MZ008576; phần máy có số: JK12E0208599. Xe đã cũ chày xước và qua sử dụng không tiến hành kiểm tra tình trang chi tiết bên trong xe (xe không có gương).

(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 07/BB/2025 ngày 17/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra C tỉnh Phú Thọ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Phú Thọ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc S phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh PT;
  • - VKSND tỉnh PT;
  • - Sở tư pháp tỉnh PT;
  • - VKSND KV12-PT;
  • - CQ THADS tỉnh PT;
  • - Phòng PC 10 – CATPT;
  • - Phòng PV06-CATPT;
  • - Trại TG số 3 – CATPT;
  • - Phòng THADS12-PT;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 44/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S 134
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger