|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số:44/2025/HS- ST Ngày 16-6-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Giáp Thị Hiền
Bà Nguyễn Thị Kim Oanh
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Trường- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2025/TLST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2025/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Chí C, sinh năm 2004
Nơi thường trú: tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Minh V và bà: Bùi Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử phạt Trần Chí C 13 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/9/2024; tiền sự: không; nhân thân: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên toà).
+ Bị hại:
- Ông Bùi Văn L1, sinh năm 1976 (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1979 (có mặt)
Đều thường trú: tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Thân Đức P, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 24 phút ngày 19/3/2024, Trần Chí C - sinh năm 2004 trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang đi bộ từ nhà bà ngoại là Nguyễn Thị A – sinh năm 1955 trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang đi sang nhà ông Bùi Văn L1 – sinh năm 1976 trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang để rủ con trai của ông L1 là Bùi Ngọc H – sinh ngày 15/6/2007 đi chơi. Khi đến nơi, C thấy cổng nhà ông Lưu M, C đi vào trong nhà gọi H không thấy H trả lời và không có ai ở nhà. Lúc này, C nhìn thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L8-9926 của ông Bùi Văn L1 để ở sân, do cuối năm 2024, khi C đi chơi cùng anh Bùi Ngọc H, C đã tự ý đánh thêm 01 chiếc chìa khoá xe mô tô biển kiểm soát 98L8-9926 và cất giữ mang theo trên người nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của ông L1. C tiến đến vị trí chiếc xe lấy chìa khoá xe có sẵn cắm vào ổ khoá xe mở máy dắt chiếc xe mô tô ra ngoài cổng, sau đó nổ máy điều khiển xe mô tô đi chơi. Đến khoảng 15 giờ ngày 19/3/2025, C điều khiển chiếc xe trên đến nhà nghỉ “Hồng Nhạn” thuộc địa phận thôn C, xã N, huyện T để cắm xe. Khi đến nhà nghỉ H1, C gặp ông Thân Đức P - sinh năm 1960 trú tại thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang là chủ nhà nghỉ, C đặt vấn đề để lại xe làm tin để vay tiền, ông P hỏi chiếc xe của ai thì C bảo là xe của C. Ông P đồng ý cho C vay 2.000.000 đồng và C để chiếc xe lại làm tin. Sau khi ông P đưa tiền cho C, thì C nhờ ông P chở C về nhà bà ngoại, sau đó C trả cho ông P 100.000 đồng tiền xe ôm. Số tiền cắm xe có được C đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 20/3/2024, ông L1 phát hiện bị kẻ gian trộm cắp mất xe đã xem camera của gia đình nhận ra C là người đã trộm cắp xe của gia đình, ông L1 đến gặp mẹ C là chị Bùi Thị L – sinh năm 1974 trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang để hỏi nhưng chị L không biết việc C trộm cắp xe.
Ngày 24/3/2025 ông Bùi Văn L1 trình báo Công an thị trấn C về việc gia đình ông bị trộm cắp xe mô tô và giao nộp cho Công an thị trấn C 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98L8-9926 tên chủ xe Nguyễn Văn T. Cùng ngày 24/3/2025, Trần Chí C đến Công an thị trấn C, huyện T đầu thú.
Ngày 24/3/2025, Công an thị trấn C đã chuyển tin báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết.
Cùng ngày 24/3/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Chí C tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 24/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã đến làm việc với ông Thân Đức P, sinh năm 1960, trú tại thôn C, xã N, huyện T và tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 98L8-9926, 01 chìa khoá xe mà C đã cắm tại nhà ông P.
Tại Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 27/3/2025 của Hội đồng định giá tài trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu sơn đỏ, dung tích 100cm³, số khung 562431, số máy 5180152, biển kiểm soát 98L8-9926, đăng ký lần đầu ngày 14/12/2005 có giá: 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).
Tại Cáo trạng số: 46/CT- VKS ngày 26/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố bị cáo Trần Chí C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Chí C từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/3/2025, không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo C phải bồi thường cho ông Thân Đức P số tiền 1.900.000 đồng. Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà bị hại bà Nguyễn Thị C1 trình bày: bà là mợ của bị cáo C, bị cáo C đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy biển kiểm soát: 98L8- 9926 nhưng đến nay gia đình bà đã nhận lại chiếc xe và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị hại ông L1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có lời khai trong quá trình điều tra. Sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh và hình phạt: tại phiên toà, bị cáo có mặt đã hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 11 giờ 24 phút ngày 19/3/2025, tại gia đình ông Bùi Văn Lưu T1 tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Trần Chí C có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 98L8-9926 trị giá 9.500.000 đồng của ông Bùi Văn L1.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo T2 đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô của ông Bùi Văn L1 trị giá 9.500.000 đồng, tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, bản cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: bị cáo C là người có nhân thân không tốt đã bị kết tội bằng bản án.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: bị cáo C là người đã bị kết tội bằng bản án chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội . Vì vậy, bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “ Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú. Tại phiên toà bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó phải áp dụng hình phạt tù tương xứng nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[5] Đối với ông Thân Đức P khi cho C vay tiền, ông P không biết và không được C nói cho biết chiếc xe mô tô C để lại làm tin là xe C trộm cắp mà có nên cơ quan điều không có căn cứ xử lý đối với ông P.
[6] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, biển kiểm soát 98L8-9926, 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98L8-9926 tên chủ xe Nguyễn Văn T - sinh năm 1983 trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố B. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản của ông L1 mua lại vào cuối năm 2024. Kết quả tra cứu vật chứng chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 26/4/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe trên cho ông L1 quản lý, sử dụng.
[7] Về vật chứng: đối với 01 chìa khoá xe Cơ quan điều tra thu giữ là chìa khoá xe mô tô biển kiểm soát 98L8-9926 Cường tự ý đánh thêm và sử dụng để trộm cắp tài sản do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Thân Đức P yêu cầu bị cáo Trần Chí C phải bồi thường số tiền 1.900.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo C đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông P nên buộc bị phải bồi thường cho ông P số tiền 1.900.000 đồng là phù hợp.
[9] Về án phí: bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Chí C 11 (mười một) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 24/3/2025. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo C.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 chìa khoá xe mô tô biển kiểm soát 98L8-9926.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357; khoản 2 Điều 468; khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Trần Chí C phải bồi thường cho ông Thân Đức P số tiền 1.900.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Chí C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Oanh |
Bản án số 44/2025/HS- ST ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2025/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Chí C phạm tội " Trộm cắp tài sản"
