|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày 09 tháng 6 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phước
Ông Điểu Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 và 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Lê Thị Bình N (tên gọi khác: T8), sinh năm:1977, tại: An Giang, Nơi đăng ký thường trú: tổ A, xã B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, C ở hiện nay: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 09/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành N1 (đã chết) và bà Phan Hồng N2; có một người con sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 17/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Thị M (tên gọi khác: không), sinh năm:1971; tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố H, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn 05/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn L (đã chết) và bà Hoàng Thị C1; Có chồng tên Nguyễn Hữu B, sinh năm 1966 và có hai người con sinh năm 1994 và sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Huỳnh Thị N3 (tên gọi khác: B1), sinh năm: 1966; tại: Quảng Nam; Khu phố H, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn 09/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh S (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1; Có chồng tên Trương Văn X (đã chết) và có một người con sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trần Quốc T (tên gọi khác: không), sinh năm:1983; tại: Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Quãng Bình; Nơi ở hiện tại: Khu phố E, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn 010/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc X1 và bà Lê Thị T1 (đã chết); Có vợ tên Nguyễn Thị U, sinh năm 1984 và có hai người con sinh năm 2008 và sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trần Thị H (tên gọi khác: không), sinh năm: 1987, tại: Quảng Bình; Nơi cư trú: Khu phố C, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 09/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hải T2 và bà Nguyễn Thị V; Có vợ tên Lê Minh N4, sinh năm 1986 và có hai người con sinh năm 2006 và sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Lê Hữu N5 (tên gọi khác: không), sinh năm:1982; tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn 08/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê O và bà Nguyễn Thị N6; Có vợ tên Nguyễn Thị Vân Ạ, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và có một người con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/01/2020 bị Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng về hành vi “Vận chuyển trái phép chất nổ” theo Quyết định số 37/QĐ-XPVPHC; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trương Thị Q (tên gọi khác: không), sinh năm: 1986, tại: Bình Phước; Nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn 09/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn M2 và bà Trương Thị P; bị cáo chưa có chồng và con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trần Quang L1 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1990, tại: Bình Phước; Nơi cư trú: Khu phố G, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình H1 và bà Nguyễn Thị T3; Có vợ tên Nguyễn Thị Tuyền D; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án tỉnh Bình Phước xử 02 năm tù cho hưởng án treo, thử thách 04 năm tại Bản án số: 29/2014/HSPT ngày 03/4/2014 về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” (đã được xóa án tích), Ngày 08/02/2018 bị Công an thị xã P, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Chơi game bắn cá thắng thua bằng tiền” theo Quyết định số 08/QĐ-XPVPHC; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Trần Thị Kiều P1 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1994, tại: Kiên Giang; Nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 06/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N7 và bà Nguyễn Thị Hồng Y; bị cáo có chồng tên Hà Minh T4, sinh năm 1993 và có hai người con sinh năm 2021 và sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Võ Thị T5 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1986, tại: Bình Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn 06/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C2 (đã chết) và bà Đoàn Thị A (đã chết); bị cáo có chồng tên Lê Văn P2, sinh năm 1978 và có ba người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Chu Thị T6 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1980, tại: Thanh Hoá; Nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn 09/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Trọng K và bà Hoàng Thị T7 (đã chết); bị cáo có chồng tên Nguyễn Chí T8, sinh năm 1982 và có ba người con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/02/2022, bị Công an xã P, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số: 05/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh bạc”; Ngày 20/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt tiền 20.000.000 đồng theo Bản án số: 53/2023/HSST về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án tích); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Lê Thị Thanh H2 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1989, tại: Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, Nơi đăng ký tạm trú và nơi ở hiện tại: Khu phố E, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước, Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh B2 và bà Nguyễn Thị H3; bị cáo có chồng tên Phan Văn T9 (đã ly hôn năm 2022) và có ba người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: Ngày 20/9/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 20.000.000 đồng theo Bản án số: 53/2023/HSST về tội “Đánh bạc” tại khoản 1 Điều 321 BLHS. (Bị cáo chưa được xóa án tích), Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Nguyễn Thị Cẩm L2 (tên gọi khác: Không), sinh năm: 2002, tại: Bình Phước; Nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết T10 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N8; Có một người con sinh năm 2022; Tiền án: Ngày 29/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xử phạt tiền 10.000.000 đồng theo Bản án số: 167/2019/HSST về tội “Đánh bạc” (Bị cáo chưa được xóa án tích), Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Phạm Thị Mỹ T11 (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1995, tại: Quảng Nam; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đức T12 và bà Phan Thị C3; Có chồng tên Mai Văn H4, sinh năm 1985 và ba người con lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Họ và tên: Đỗ Thị L3 (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1978; Tại: Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn H5 (đã chết) và bà Hoàng Thị M3; Có chồng tên Phùng Viết N9, sinh năm 1973 và có hai người con sinh năm 2000 và sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2024 đến ngày 17/12/2024 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết được Lê Thị Bình N tổ chức đánh bạc tại nhà của N, tại Khu phố B, phường S, thị xã P. Khoảng 11h00 phút ngày 23/11/2024 Lê Thị Thanh H2, Trần Quốc T, Lê Hữu N5, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Cẩm L2, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Huỳnh Thị N3, Trương Thị Q, Phạm Thị Mỹ T11, Trần Thị H và Trần Quang L1 đến nhà N để tham gia đánh bạc thắng thua, tuy nhiên Nghĩa là người trực tiếp chuẩn bị bài tây và các dụng cụ đánh bạc để cho các con bạc tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Nổ” thắng thua bằng tiền xâu. Trong quá trình các đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà của N thì Đỗ Thị L3 đến nhà N mời tham gia đám cưới của con gái L3. Tại nhà N, khi thấy các đối tượng tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền thì L3 không tham gia chơi, tuy nhiên Phạm Thị Mỹ T11 nhờ L3 giúp T11 chia bài khoảng 06 (Sáu) ván để T11 làm nhà cái thì L3 đồng ý. Sau khi giúp Triều xong thì L3 ra về.
Khoảng 16h00 ngày 23/11/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân Cơ quan CSĐT Công an thị xã P phối hợp với Công an phường S đã tiến hành kiểm tra nhà của N thì phát hiện và bắt quả tang Lê Thị Bình N, Lê Thị Thanh H2, Trần Quốc T, Lê Hữu N5, Nguyễn Thị M,Nguyễn Thị Cẩm L2, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Huỳnh Thị N3, Trương Thị Q, Phạm Thị Mỹ T11, Trần Thị H và Trần Quang L1 đang tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi bài “Nổ” thắng thua bằng tiền. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ toàn bộ tang vật liên quan.
Vật chứng thu giữ:
- Số tiền 36.770.000 đồng; 01 cái mền màu đỏ hoa văn màu trắng; 01 bộ bài tây đã qua sử dụng; 04 bộ bài tây chưa sử dụng; 01 cái đĩa nhựa màu đỏ đen.
- 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sh mode, màu đỏ, biển số 93K1 – 275.21; 01 xe hiệu honda, loại Future, màu đen, biển số 93K1 – 076.93; 01 xe mô tô loại Air Blade, màu đen, biển số 93K1 – 096.77; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sh mode, màu đỏ, biển số 93K1 – 254.46; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 93K1 – 015.77; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH 125, màu trắng, biển số 93K1 – 170.54; 01 xe hiệu honda, loại Wave alpha, màu xanh đen, biển số 93K1 – 263.72; 01 xe hiệu honda, loại Vision, màu đỏ, biển số 93K1 – 327.59; 01 xe mô tô loại Attila, màu đỏ, biển số 93H1 – 101.34;
- 01 điện thoại di động loại Iphone 14, màu tím, số Imei: 355001504518167; 01 điện thoại di động loại Samsung, màu tím, số Imei: 358475773059466; 01 điện thoại di động loại Oppo, màu xanh, số Imei: 867124046259156; 01 điện thoại di động loại Iphone X, màu vàng, số Imei: 357214097924548; 01 điện thoại di động loại Samsung, màu xanh đen, số Imei: 351376560697478; 01 điện thoại di động loại Iphone 15, màu xanh đen, số Imei: 356388815980650; 01 điện thoại di động loại Iphone X, màu trắng, số Imei: 357239093059650; 01 điện thoại di động Samsung, màu xanh đen, số Imei: 353465100281920; 01 điện thoại di động loại Oppo Ren, màu đen, số Imei: 863921065142674; 01 điện thoại Iphone 14 Promax, màu đen, số Imei: 350813225557828; 01 điện thoại di động loại Iphone 11 Pro, màu xanh, số Imei: 353241104187151; 01 điện thoại di động loại Iphone 13, màu xám, số Imei: 353501497299198, mặt sau bị vỡ; 01 điện thoại di động loại Iphone 8, màu vàng gold, số I: 354838099833845.
Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã thu giữ và xác định số tiền các bị can sử dụng khi tham gia đánh bạc vào ngày 23/11/2024 như sau:
Lê Thị Bình Nghĩa là người trực tiếp chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc, sử dụng nhà của mình đang ở cho các con bạc đánh bạc để thu tiền xâu. Khi người làm cái “nổ” thì sẽ phải đưa cho N từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, tiền này gọi là tiền “xâu”.
Về số tiền các bị can sử dụng vào mục đích đánh bạc:
- Bị can H2 sử dụng 3.600.000 đồng;
- Bị can Q sử dụng 4.000.000 đồng;
- Bị can T sử dụng 1.000.000 đồng;
- Bị can T5 sử dụng 1.000.000 đồng;
- Bị can N5 sử dụng 1.600.000 đồng;
- Bị can M sử dụng 1.000.000 đồng;
- Bị can L2 sử dụng 1.000.000 đồng;
- Bị can P1 sử dụng 3.300.000 đồng;
- Bị can Tươi sử dụng 3.000.000 đồng;
- Bị can N3 sử dụng 500.000 đồng;
- Bị can T11 sử dụng 4.000.000 đồng;
- Bị can L1 sử dụng 1.000.000 đồng;
- Bị can H sử dụng 2.000.000 đồng.
Hình thức chơi như sau:
Bài nổ được chơi từ bộ bài tây 52 lá và người làm cái thì ai thích làm cái thì làm (không cố định), người làm cái sẽ chia bộ bài tây cho mỗi người chơi hai lá bài tây, đặt cược mỗi ván từ 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) đến 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Nếu hai lá bài cộng lại mà tổng số nút là 14 (Mười bốn) có nghĩa là bốn nút thì có thể rút thêm một lá bài hoặc không rút lá bài nào (Mỗi người tối đa chỉ đuọc rút một lá bài), người chơi không rút thêm là bài thì gọi là dằn bài. Nếu tổng số điểm là 8 (T13) hoặc 9 (Chín) nhưng chỉ 02 (Hai) lá gọi là bài “Nổ”, tỷ lệ thắng thua là một ăn một. Khi nhà cái chia bài cho người chơi, nhà cái hoặc người chơi có đôi 9 (Chín) thì cũng gọi là “Nổ” tỷ lệ thắng thua là một thắng gấp hai. Nếu được 2 (Hai) lá bài tây thì là bù (không có điểm). Người chơi phải rút thêm, nếu rút thêm là lá bài tây (Giống hai lá bài đang cầm) thì gọi là “Nổ”, tỷ lệ thắng thua là một thắng gấp hai nhưng thua bài “Nổ”. Bài “Nổ” lớn nút hơn sẽ thắng bài “Nổ” nhỏ nút hơn. Nếu hai lá bài cộng lại mà tổng số nút là 14 (Mười bốn) thì bắt buộc người chơi hoặc cái phải rút thêm một lá bài nếu không phải đền cho tất cả người chơi số tiền tương ứng đã đặt.
Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã thu giữ tổng số tiền: 36.770.000 đồng; trong đó số tiền các bị can sử dụng vào việc đánh bạc là 27.370.000 đồng.
Ngày 02/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố các bị cáo về hành vi nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 17 tháng 03 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố các bị cáo Lê Thị Bình N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Quang L1, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 17 tháng 03 năm 2025. Bị cáo Lê Thị Bình N có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3 có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo Trần Quang L1, Chu Thị T6, Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2 có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, đang nuôi con nhỏ; bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L2, Lê Thị Thanh H2 có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 322; các Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Bình N từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2 mức án 06 tháng đến 07 tháng tù. Phạt bổ sung mỗi bị cáo 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các Điều 17, 35; Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các Điều 17, 35; Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Chu Thị T6, Trần Quang L1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên:
- - Số tiền 27.370.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với 01 cái mền màu đỏ hoa văn màu trắng; 01 bộ bài tây đã qua sử dụng; 04 bộ bài tây chưa sử dụng; 01 cái đĩa nhựa màu đỏ đen đây là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi đúng với hành vi cáo trạng đã truy tố và thống nhất với tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã đề nghị. Các bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm. Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, áp dụng mức án khoan hồng,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã P, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 23/11/2024, bị cáo Lê Thị Bình N trực tiếp chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc, sử dụng địa điểm là nhà ở thuộc quyền quản lý, sử dụng của N cho các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Quang L1, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3 đánh bạc thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 27.370.000 đồng để thu tiền sâu. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự an toàn xã hội và trật tự pháp luật. Các bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thị Bình N đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Quang L1, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2, Phạm Thị Mỹ T11 và Đỗ Thị L3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã phước L4 truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi “Đánh bạc” của các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Quang L1, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2, Phạm Thị Mỹ T11 và Đỗ Thị L3 thuộc đồng phạm giản đơn, do các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt Hội đồng đồng xét xử cần xem xét tính chất, mức độ, vai trò tham gia phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Bị cáo Lê Thị Bình N,Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H,Trần Quang L1, Chu Thị T6,Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Phạm Thị Mỹ T11,Đỗ Thị L3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L2, Lê Thị Thanh H2 đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội “Đánh bạc” vào ngày 23/11/2024 nên bị cáo L2, H2 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Thị Bình N có các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3 có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo Trần Quang L1, Chu Thị T6, Lê Thị Thanh H2, Nguyễn Thị Cẩm L2 có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, đang nuôi con nhỏ, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.
[6] Căn cứ vào tính chất và mức đô nguy hiểm của tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi các bị cáo Lê Thị Bình N, Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H, Trần Quang L1, Chu Thị T6,Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3 xâm phạm trật tự công cộng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt và hiện các bị cáo có công việc, nguồn thu nhập ổn định nên có đủ khả năng nộp phạt tiền theo quy định; do đó áp dụng hình phạt chính bằng phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật, cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L2, Lê Thị Thanh H2 đã từng bị kết án về hành vi Đánh bạc nhưng chưa được xoá án tích các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện các bị cáo không tôn trọng pháp luật, mức hình phạt của Bản án trước chưa đủ sức răn đe đối với các bị cáo nên cần xử phạt các bị cáo L2, H2 hình phạt tù mới nâng cao được ý thức chấp hành pháp luật của các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[7] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Điều 32 Bộ luật hình sự 2015, do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo các bị cáo Lê Thị Bình N, Nguyễn Thị M, Huỳnh Thị N3, Trần Quốc T, Trần Thị H,Trần Quang L1, Chu Thị T6,Lê Hữu N5, Trương Thị Q, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Phạm Thị Mỹ T11, Đỗ Thị L3.
[8] Về vật chứng vụ án:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 27.370.000 đồng.
- Đối với 01 cái mền màu đỏ hoa văn màu trắng; 01 bộ bài tây đã qua sử dụng; 04 bộ bài tây chưa sử dụng; 01 cái đĩa nhựa màu đỏ đen là công cụ bị cáo Lê Thị Bình N cung cấp cho các bị cáo sử dụng để đánh bạc do không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền thu giữ của các bị cáo được chứng minh không sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: 5.000.000 đồng là tài sản của Lê Thị Bình N; 2.400.000 đồng thu trên người Nguyễn Thị M; 2.000.000 đồng thu trên người Trần Quang L1 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho các bị cáo là đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét lại.
- Đối với 13 điện thoại di động (ĐTDĐ) thu giữ của các bị cáo gồm: 01 điện thoại di động loại Iphone 14 màu tím, 01 điện thoại di động loại Samsung màu tím của Lê Thị Bình N; 01 điện thoại di động loại Oppo màu xanh của Nguyễn Thị M; 01 điện thoại di động loại Iphone X màu vàng của Huỳnh Thị N3; 01 điện thoại di động loại Samsung, màu xanh đen của Trần Quốc T; 01 điện thoại di động loại Iphone 15 màu xanh đen của Trần Thị H; 01 điện thoại di động loại Iphone X màu trắng của Lê Hữu N5; 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen của Trương Thị Q; 01 điện thoại di động loại Oppo Reno màu đen của Trần Quang L1; 01 điện thoại Iphone 14 Promax màu đen của Trần Thị Kiều P1; 01 điện thoại di động loại Iphone 11 Pro màu xanh của Võ Thị T5; 01 điện thoại di động loại Iphone 13 màu xám của Lê Thị Thanh H2; 01 điện thoại di động loại Iphone 8 màu vàng gold của Phạm Thị Mỹ T11 là tài sản cá nhân của các bị can, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho các bị cáo là đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét lại.
- Đối với: 01 xe mô tô loại Air Blade, màu đen, biển số 93K1 – 096.77 là tài sản của anh Võ Văn H6; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sh mode, màu đỏ, biển số 93K1 – 275.21, đây tài sản của anh Nguyễn Đình T14; 01 xe hiệu honda, loại Future, màu đen, biển số 93K1 – 076.93 là tài sản của Huỳnh Thị N3; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Sh mode, màu đỏ, biển số 93K1 – 254.46 là tài sản của Trần Thị H; 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 93K1 – 015.77 là tài sản của anh Nguyễn Thanh N10; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại SH 125, màu trắng, biển số 93K1 – 170.54, đây tài sản của anh Trần Quang L1; 01 xe hiệu honda, loại Vision, màu đỏ, biển số 93K1 – 327.59 là tài sản của chị Chu Thị T6; 01 xe hiệu honda, loại Wave alpha, màu xanh đen, biển số 93K1 – 263.72 là tài sản của anh Hà Minh T4; 01 xe mô tô loại Attila, màu đỏ, biển số 93H1 – 101.34 là tài sản của chị Nguyễn Thị Thu H7, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe mô tô cho các chủ sở hữu là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận. Do bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L2 và Lê Thị Thanh H2 đang nuôi con nhỏ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh và hình phạt:
-
- Tuyên bố bị cáo Lê Thị Bình N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 35, 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Bình N 50.000.000 (Năm mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
-
- Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Thanh H2, Trần Quốc T, Lê Hữu N5, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị Cẩm L2, Trần Thị Kiều P1, Võ Thị T5, Chu Thị T6, Huỳnh Thị N3, Trương Thị Q, Phạm Thị Mỹ T11, Trần Thị H, Trần Quang L1 và Đỗ Thị L3 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 38, 17, 50, 58; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh H2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Cẩm L2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các Điều 17, 35; Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Chu Thị T6 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Quang L1 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, các điều 17, Điều 35, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu N5 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kiều P1 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Võ Thị T5 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị N3 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trương Thị Q 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Mỹ T11 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L3 20.000.000 (Hai mươi triệu) Việt Nam đồng nộp vào Ngân sách nhà nước.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.:
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 27.370.000 đồng (Hai mươi bay triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 Cái mền màu đỏ hoa văn màu trắng; 01 bộ bài tây đã qua sử dụng; 04 bộ bài tây chưa sử dụng; 01 cái đĩa nhựa màu đỏ đen.
- Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0003919 ngày 04/04/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long.
3.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (09/6/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Bân |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Bình Nghĩa cùng đồng phạm phạm tội tổ chức đánh bạc, đánh bạc
