Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HS-PT

Ngày 19/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Võ Nhung Toàn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2025/HS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Nhung Toàn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08 tháng 02 năm 2005, tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn L, xã Â, huyện H, tỉnh B ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn T1, sinh năm 1971, Con bà: Tạ Thị Kim N, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không: Nhân thân: Ngày 20/3/2024, bị Công an huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” bằng hình thức phạt tiền (đã chấp hành xong hình phạt). Ngày 03/5/2024, bị Công an huyện A ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 26/QĐ-XPHC về hành vi “Tham gia tập trung đông người trái pháp luật tại khu vực cấm” bằng hình thức phạt tiền (đã chấp hành xong hình phạt). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/11/2023, Nguyễn Đức B nhờ Võ Nhung Toàn T mang 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu Gold, bản VN/A, loại 256 GB của B đi cầm cố thì T đồng ý. T mang điện thoại trên đến cầm cố tại Trung tâm điện thoại di động “Viễn Đạt” của Nguyễn Anh H tại

số I T, phường B, thị xã H, tỉnh B hỏi “Anh có mua điện thoại Iphone 14 Promax loại 256GB không?”, P trả lời “Có”, T hỏi “Anh mua tầm bao nhiêu?”, P trả lời “Tầm 21,5 triệu nếu máy đẹp, không dính Icloud”. Đến 21 giờ ngày 08/12/2023, T nhắn tin qua mạng xã hội Z nói B chụp tờ giấy cầm cố điện thoại Iphone 14 Promax trên của B gửi cho T để T nói dì là Tạ Thị Trà Kim V cho tiền đi chuộc lại điện thoại nhằm trừ đi số trước đó T còn nợ B thì được B đồng ý và chụp hình giấy cầm cố điện thoại gửi cho T. Tiếp đó, T tự tạo 01 tài khoản Zalo tên “Dì V” rồi nhắn tin với tài khoản Zalo tên “T” của mình với nội dung “Dì V” sẽ cho tiền T chuộc điện thoại trên, rồi chụp màn hình cuộc trò chuyện gửi cho B xem và được B đồng ý đưa tờ giấy cầm cố điện thoại cho T.

Đến khoảng 07 giờ ngày 09/12/2023, T đến tiệm điện thoại của B lấy giấy cầm cố điện thoại Iphone 14 Promax của B. Trưa cùng ngày, T liên hệ hẹn gặp Pháp tại thị trấn T, huyện H để bán điện thoại Iphone 14 Promax đang cầm cố tại Trung tâm điện thoại di động “Viễn Đạt” thì P đồng ý. Khi P đến thị trấn T, T dẫn P đến Trung tâm điện thoại di động “Viễn Đạt” rồi nói P đưa số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng để T vào chuộc điện thoại, thì gặp Mai Thị H1 là vợ của H, lúc này H đang bận sửa chữa điện thoại. T nói với H1 “Cho em chuộc lại điện thoại”, đồng thời đưa tờ giấy cầm cố điện thoại và số tiền 15.000.000 đồng cho H1. Sau đó T hỏi H1 “Có tính thêm tiền lãi không” thì H1 cầm điện thoại đến quầy sửa chữa hỏi H có lấy tiền lãi không. H nói, “Lấy nó một triệu”, thì H1 ra nói với T “Lấy thêm một triệu tiền lãi”. T ra gặp P nói đưa thêm 1.000.000 đồng để đóng tiền lãi cầm cố điện thoại. Sau khi lấy được điện thoại T và P đi đến quán nước YoYo để trao đổi mua bán chiếc điện thoại này. P kiểm tra điện thoại đáp ứng được các yêu cầu như đã nói trước đó với T và thấy không phải tài sản trộm cắp nên đồng ý mua lại với giá 21.500.000 đồng nên đã đưa thêm cho T 5.500.000 đồng rồi cả hai ra về. Sau đó, B nhắn tin hỏi T đã chuộc điện thoại ra chưa thì T nói dối đang cầm cố điện thoại Iphone 14 Promax trên tại tiệm điện thoại “Kim Lân” của P và hứa sẽ chuộc về trả cho B. B liên hệ với P và phát hiện T đã bán điện thoại trên cho P, P cũng đã bán chiếc điện thoại trên cho khách hàng vãng lai không rõ lai lịch. Sau nhiều lần yêu cầu T trả lại điện thoại nhưng T không thực hiện nên ngày 14/3/2024 Nguyễn Đức B làm đơn báo cáo Công an xã Â, huyện H.

Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HDĐGTS ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu Gold, loại 256 GB, bản VN/A, số S:

D2K3HFX9VK, IMEI/MEID: 355597823775263, tình trạng: điện thoại đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 09/12/2023 trị giá 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu Gold, loại 256 GB, bản VN/A của Nguyễn Đức B thì Nguyễn Đức P đã bán cho một khách hàng vãng lai không rõ lai lịch nên không thu giữ được.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 03/01/2025, Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Nhung Toàn T;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Nhung Toàn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Võ Nhung Toàn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13/01/2025, bị cáo Võ Nhung Toàn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, bị cáo Võ Nhung Toàn T giữ nguyên kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Nhung Toàn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khi Nguyễn Đức B nhờ Võ Nhung Toàn T mang 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu Gold, bản VN/A, loại 256 GB của B đi cầm cố tại Trung tâm điện thoại di động “Viễn Đạt” thì T nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại di động Iphone 14 Promax trên của B bán lấy tiền. T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để B tin và được B đưa tờ giấy cầm cố điện thoại di động Iphone 14 Promax cho T để chuộc lấy lại điện thoại. Đến trưa ngày

09/12/2023, sau khi chuộc được điện thoại, thì T đã bán cho người khác để lấy số tiền 5.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 25.000.000 đồng ( Theo Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HDĐGTS ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H).

Do đó, Tòa án nhân dân huyện H đã xét xử bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Nhung Toàn T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, biết rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính tham lam nên bị cáo đã lợi dụng lòng tin, cố tình đưa ra những thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo tiếp tục nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật và đã bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt hành chính.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; ngoài ra, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Võ Nhung Toàn T 12 (Mười hai) tháng tù là phù hợp. Để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Nhung Toàn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[3] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Nhung Toàn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Nhung Toàn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2025/HS-ST ngày 03/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện H.

2.1. Xử phạt Võ Nhung Toàn T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Nhung Toàn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1.TANDTC (1);
  • - VKSND tỉnh B(1);
  • - TAND huyện H (2);
  • - VKSND huyện H (1);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện H (1);
  • - Cơ quan THAHS CA huyện H (2);
  • - Chi cục THADS huyện H (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh B (1);
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bh (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu: Toà Hình sự, HCTP, hồ sơ vụ án (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Bá Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B về hình sự phúc thẩm (về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản")

  • Số bản án: 44/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản")
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Nhung Toàn T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger