Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 44/2025/HS-PT

Ngày: 10-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Rung K' Nhơn

Ông Dư Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 247/2024/TLPT-HS ngày 09-12-2024 đối với các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 227/2024/HS-ST ngày 18-9-2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn H, tên gọi khác: không, sinh năm: 1975 tại Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Công trình số B, đường T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Thợ hồ; con ông: Phạm Văn T (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị K; vợ: Nguyễn Thị H1 (Đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QD-XPHC ngày 23-5-2008 bị Công an huyện Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt số tiền 350.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Vắng mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu N, tên gọi khác: không, sinh năm 1988, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: số B, đường T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; con ông: Nguyễn Hữu P, năm sinh 1957 và bà: Nguyễn Thị Tuyết Đ, sinh năm 1960; vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại. Có mặt

Trong vụ án này còn có những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn H và Nguyễn Hữu N là người nhận các công trình xây dựng tại thành phố Đ để thi công. Ngày 26-8-2023, H nhận hoàn thiện công trình xây dựng nhà dân tại số B T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng từ anh Võ Minh T1, sinh năm: 1970, nơi cư trú: số C Đ, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng với giá hoàn thiện là 1.300.000 đồng/m², chủ đầu tư là Mai Lệ H2, sinh năm 1980, nơi cư trú: số D đường E T, B, thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận thầu công trình trên thì H thuê anh Nguyễn Văn T2, làm thợ phụ hồ với tiền lương 360.000 đồng/ngày nhưng H không cho anh T2 tập huấn an toàn lao động trước khi thực hiện công việc. Do H và N cùng lúc thực hiện nhiều công trình nên công trình số B T, Phường A là do N có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo về việc thi công còn H quản lý tại công trình khác, tuy nhiên cả hai sẽ chia đều nhau tiền công sau khi thực hiện xong công trình. Khoảng 07 giờ ngày 20-10-2023, N và anh T2 cùng thực hiện công việc đóng tấm đan cửa sổ phía ngoài của tầng 2 ngôi nhà. Thời điểm này, N không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn trước khi thi công, như: Không tiến hành lắp lưới, lan can an toàn, không bố trí các điểm để treo (Buộc) dây đai an toàn cùng với dây cứu sinh cho người lao động, khi thấy anh T2 không đeo dây an toàn, nhưng N không nhắc nhở và yêu cầu anh N dừng công việc mà vẫn tiếp tục công việc. Trong lúc đứng trên giàn giáo thứ 7, cách mặt đất khoảng 10,5m để đóng tấm đan thì anh T2 bị té ngã từ trên giàn giáo xuống mương cách chân giàn giáo khoảng 01m, dẫn đến tử vong. (BL: 40-45; 66-109)

Ngày 14-11-2023, Đoàn điều tra tai nạn lao động tỉnh Lâm Đồng do Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh L chủ trì đã có công văn số 10/ĐTTNLĐ, xác định:

Mối quan hệ về pháp luật lao động:

Tại khoản 1 điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thoả thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động”.

Như vậy, giữa ông: Phạm Văn H và ông Nguyễn Hữu N với ông Nguyễn Văn T2 có phát sinh quan hệ pháp luật về lao động.

Mối quan hệ về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động:

Tại khoản 8 điều 3 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định: “tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.

Do đó, tai nạn xảy ra vào khoảng 7 giờ 00 phút ngày 20-10-2023 tại công trình xây dựng số B T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, làm ông Nguyễn Văn T2 tử vong là tại nạn lao động.

Nguyên nhân:

Người sử dụng lao động chưa thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn chống rơi, ngã khi người lao động làm việc trên cao (có độ cao từ 02m trở lên) theo quy định tại điểm 2.7.1.1, 2.7.1.5 khoản 2 Mục 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20/12/2021 của Bộ X ban hành QCVN 18:2021/BXD.

Ngoài ra, trong quá trình làm việc, người lao động (ông Nguyễn Văn T2 = người bị tai nạn) không sử dụng dây an toàn theo quy định tại điểm 2.7.1.2 khoản 2 Mục 2 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD.

Do đó, nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn lao động tại công trình xây dựng số B T - Phường A - Đ - Lâm Đồng, làm ông Nguyễn Văn T2 tử vong là do người sử dụng lao động không có biện pháp đảm bảo an toàn chống rơi ngã và người lao động không sử dụng dây an toàn theo quy định.

Lỗi của người có liên quan:

Tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, quy định: “Dùng thi công xây dựng đối với công việc xây dựng, hạng mục công trình khi phát hiện có sai sót, khiếm khuyết, sự cố này. Dừng thi công xây dựng khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn lao động...” và khoản 3 điều 15 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP, quy định về trách nhiệm của người lao động trong việc đảm bảo an toàn lao động trong công trường, cụ thể: “Từ chối thực hiện các công việc được giao khi thấy không đảm bảo an toàn lao động hoặc không được cung cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân theo quy định”.

Như vậy, ông Nguyễn Văn H3, ông Nguyễn Hữu N và ông Nguyễn Văn T2 là những người có lỗi và phải chịu trách nhiệm về vụ tai nạn lao động làm ông Nguyễn Văn T2 tử vong (BL: 76-78).

Bị hại:

anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1984, nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (Đã chết). Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 182/KLGĐTT-PC09 ngày 27-10-2023 của phòng PC09 - Công an tỉnh L xác định nguyên nhân chết của Nguyễn Văn T2 là “Chấn thương sọ não nặng”.

Đại diện hợp pháp của bị hại:

bà Trịnh Thị G, sinh năm 1958, HKTT: Thôn L, Q, Q, Thừa Thiên H4 (Mẹ đẻ của bị hại). Sau khi xảy ra sự việc, Phạm Văn H và Nguyễn Hữu N đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 150.000.000 đồng, bà G đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. (BL: 46-48; 96A-96C)

Tại bản cáo trạng số 250/CT-VKSÐL - LĐ ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ Luật Hình sự.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 227/2024/HS-ST ngày 18-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bắt giam thi hành án.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26-9-2024, các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Phạm Văn H đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do.

Bị cáo Nguyễn Hữu N có mặt và không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu N, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo N được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.

[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về thủ tục tố tụng: Bị cáo cũng là người kháng cáo Phạm Văn H đã được triệu tập hợp lệ tham gia xét xử phúc thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Xét việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không ảnh hưởng đến việc xét xử, ra bản án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Phạm Văn H theo quy định tại điểm c, Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

[4] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu N có mặt tại phiên tòa và thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai người tham gia tố tụng; kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Phạm Văn H và Nguyễn Hữu N không có chứng chỉ hành nghề xây dựng nhưng vẫn nhận các công trình xây dựng tại thành phố Đ để thi công. Ngày 26-8-2023, H nhận hoàn thiện công trình xây dựng nhà dân tại số B T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng cùng với N. Sau khi nhận thầu công trình trên, H, N thuê anh Nguyễn Văn T2 làm thợ phụ hồ với tiền lương 360.000 đồng/ngày nhưng không cho anh T2 tập huấn an toàn lao động trước khi thực hiện công việc. Sau đó, H giao cho N quản lý, chỉ đạo thi công đối với công trình số B T, phường A, thành phố Đ còn H quản lý tại công trình khác. Khoảng 7 giờ ngày 20-10-2023, N và anh T2 cùng thực hiện công việc đóng tấm đan cửa sổ phía ngoài của tầng 2 ngôi nhà nhưng không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn trước khi thi công như: Không tiến hành lắp lưới, lan can an toàn, không bố trí các điểm để treo (Buộc) dây đai an toàn cùng với dây cứu sinh cho anh T2 khi thực hiện công việc dẫn đến anh T2 bị té ngã từ trên giàn giáo xuống mương cách chân giàn giáo khoảng 01m, dẫn đến tử vong.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/10/2023; kết luận giám định pháp y tử thi số 180/KLGĐTT – PC09 ngày 27/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L; kết luận số 10/ĐĐTNLĐ ngày 14/11/2023 của Đoàn Điều tra tai nạn lao động tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thực được không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn lao động có thể dẫn đến hậu quả chết người nhưng chủ quan cho rằng hậu quả khó có thể xảy ra nên không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho công nhân, dẫn đến việc người lao động do mình quản lý chết như hành vi đã nêu trên. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án 02 bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội danh và không oan, sai.

[5] Về hình phạt và kháng cáo: Hành vi của 02 bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng, cụ thể là quy định về an toàn lao động dẫn đến thiệt hại về tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trị an trong lĩnh vực xây dựng. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho 02 bị cáo các tình tiết giảm nhẹ bao gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả; được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng và đầy đủ. Mặc dù 02 bị cáo phạm tội lần đầu nhưng tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng; nếu cho 02 bị cáo cải tạo ngoài cộng đồng sẽ không nghiêm, không đủ sức răn đe, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý nhà nước về trật tự xây dựng, an toàn lao động. Vì vậy, cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 12 tháng tù là nghiêm, đáp ứng được công tác phòng chống tội phạm trên địa bàn Đ. 02 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo nhưng không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ mới, trong khi đó án như đánh giá thì mức án Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của 02 bị cáo và quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng đối với bị cáo Nguyễn Hữu N, cần giữ nguyên mức án của Tòa án cấp sơ thẩm.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên 02 bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Về các vấn đề khác:

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.

1. Về tội phạm và hình phạt :

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

1.1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án.

1.2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 ; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Phạm Văn H, Nguyễn Hữu N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01)
  • - Phòng Ttra, KT&THA (02);
  • - TAND thành phố Đà Lạt (02);
  • - VKSND thành phố Đà Lạt (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HS-PT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về an toàn lao động

  • Số bản án: 44/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger