trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-9-2025

V/v: Xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Phụng
  2. Ông Hoàng Văn Đức

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025 về việc xác định cha cho con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1996; ĐKHK: Thôn V, xã Q, tỉnh Hưng Yên; Hiện đang ở: Thôn D, xã V, tỉnh Hưng Yên.

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn D, xã V, tỉnh Hưng Yên.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Quách Văn C, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn V, xã Q, tỉnh Hưng Yên; Hiện đang lao động tại Đài Loan.

(Chị T và anh H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/8/2025, bản tự khai, các đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:

Chị và anh Quách Văn C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 24/01/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đó đến khi giải quyết ly hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng không còn tình cảm nên chị T và anh C đã làm thủ tục ly hôn và được Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho ly hôn tại bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 26/12/2024. Tại bản án nêu trên ghi nhận việc chị và anh C thuận tình ly hôn, anh chị chỉ có một con chung trong thời kỳ hôn nhân là cháu Quách Gia B, sinh ngày 03/3/2018 được giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra giải quyết về vấn đề cấp dưỡng và tài sản của chị T, anh C.

Trong quá trình giải quyết ly hôn, chị T có phát sinh tình cảm, có quan hệ sinh lý với anh Trần Văn H và có thai. Tuy nhiên khi giải quyết ly hôn với anh C thì chị T không biết mình có thai nên sự việc này không được ghi nhận trong bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên. Đến ngày 22/7/2025 chị có hạ sinh cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 nhưng không phải là con chung của chị và anh Quách Văn C do thời gian đó anh chị đã sống ly thân với nhau, anh C đang đi lao động ở Đài Loan. Nay chị T đề nghị Tòa án giải quyết xác định anh Trần Văn H là bố đẻ của cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

Tại bản tự khai đề ngày 07/8/2025, các đơn trình bày và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Văn H trình bày:

Theo anh được biết chị Hà Thị T và anh Quách Văn C có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 24/01/2016, trong quá trình chung sống do mâu thuẫn về quan điểm sống và cách sống nên chị T và anh C đã làm thủ tục ly hôn và được Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho ly hôn tại bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 26/12/2024. Anh và chị T có tình cảm và phát sinh quan hệ sinh lý vào thời điểm chị T đang giải quyết ly hôn với anh C. Khi giải quyết ly hôn chị T không biết mình có thai. Đến ngày 22/7/2025 chị T đã sinh cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P. Anh đề nghị Tòa án thực hiện thủ tục giám định và đề nghị xác định anh là cha đẻ của cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Quách Văn C nhiều lần, tuy nhiên anh C không đến Tòa án làm việc. Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã tiến hành tống đạt trực tiếp và hợp lệ theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng cho anh C ở gia đình tại thôn V, xã Q, tỉnh Hưng Yên, anh C đã biết được nội dung vụ án tuy nhiên không đến Tòa án làm việc. Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

Tại biên bản lấy lời khai của ông Quách Văn N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1962; Đều có địa chỉ tại thôn V, xã Q, tỉnh Hưng Yên là bố mẹ đẻ của anh C đều xác nhận anh C hiện đang lao động ở Đài Loan, không cung cấp địa chỉ cụ thể để ông bà cung cấp cho Tòa án, anh C đã biết được việc chị T yêu cầu xác định cha cho con nhưng vì công việc nên anh C không thể về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết theo giấy triệu tập. Anh đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết và xác định cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) là con đẻ của anh Trần Văn H, không phải là con chung của anh và chị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Quách Văn C mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh không trình bày ý kiến, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại các Điều 70, 73 Bộ luật Tố dụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 88, 89, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định anh Trần Văn H là cha đẻ của con do chị Hà Thị Tâm S ra là cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P. Anh Trần Văn H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn anh Trần Văn H đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã V, tỉnh Hưng Yên, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi, thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Hà Thị T, anh Trần Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Quách Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[3] Về yêu cầu xác định cha cho con của chị Hà Thị T: Chị Hà Thị T yêu cầu Tòa án xác định anh Trần Văn H, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn D, xã V, tỉnh Hưng Yên là cha đẻ của con do chị Hà Thị Tâm S ra là cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P, bị đơn anh Trần Văn H chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy, chị Hà thị T và anh Quách Văn C kết hôn năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện P, tỉnh Hưng Yên (nay là xã Q, tỉnh Hưng Yên) và có một con chung trong thời kỳ hôn nhân là cháu Quách Gia B, sinh ngày 03/3/2018. Ngày 26/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho chị Hà Thị T và anh Quách Văn C thuận tình ly hôn theo bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 26/12/2024. Ngày 22/7/2025 chị Tâm S được một con là cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P. Như vậy, cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ ngày chị T và anh C chấm dứt hôn nhân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) được coi là con do chị T có thai trong thời kỳ hôn nhân. Mặc dù cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) được coi là con do chị T có thai trong thời kỳ hôn nhân với anh C tuy nhiên cả chị T và anh C đều xác định cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) do chị T sinh ngày 22/7/2025 là con đẻ của anh Trần Văn H. Sau khi chị T sinh con đã đưa cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh) đi giám định AND. Tại phiếu kết quả phân tích ADN số 25746IG/DNA ngày 29/7/202 của Công ty TNHH Đ kết luận: “Trần Văn H có quan hệ huyết thống bố - con với người có tên dự kiến Trần Văn A...”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hưng Yên đã tiến hành trưng cầu giám định tại V - Bộ C1, tại Kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 13/8/2025 của V - Bộ C1, kết luận: “Anh Trần Văn H và chị Hà Thị T có quan hệ huyết thống cha đẻ, mẹ đẻ với cháu Trần Văn A Lưu kiểu gen của anh Trần Văn H, chị Hà Thị T và cháu Trần Văn H tại V - Bộ Cl”. Như vậy lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, yêu cầu của chị Trần Thị T1 về việc xác định anh Trần Văn H là cha đẻ của cháu Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P là có cơ sở nên cần chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Chị T1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí trưng cầu giám định 11.526.500 đồng (Mười một triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng) và không yêu cầu anh H phải chịu chi phí giám định. Xét đề nghị của chị T1 là tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí: Chị T1 thuộc trường hợp được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và có đơn xin miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 88, 89, 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 01/7/2025; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Hà Thị T: Xác định anh Anh Trần Văn H, sinh ngày 13/12/1991; Địa chỉ: Thôn D, xã V, tỉnh Hưng Yên; có số căn cước công dân là [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/5/2023 là cha đẻ của con do chị Hà Thị Tâm S ra là bé trai Trần Văn A (tên giả định dự kiến để đăng ký khai sinh), sinh ngày 22/7/2025 theo giấy chứng sinh số Giấy chứng sinh số 01074, mã GCS 06981.GCS.34017.25, quyển số 01SS-25A ngày 22/7/2025 của Bệnh viện P.
  2. Về chi phí tố tụng: Chị Hà Thị T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí trưng cầu giám định 11.526.500 đồng (Mười một triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng), chị Hà Thị T đã thực hiện xong.
  3. Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Hà Thị T.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - VKSND khu vực 5 – Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu HCTP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Xuân Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN về xác định cha cho con

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xác định cha cho con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger