TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2025 |
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Mích; Bà Phạm Thị Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 123/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 124/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Thị Cẩm G, sinh năm 1989;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1990;
ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
(Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 04/3/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thị Cẩm G trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đức D do quen biết tìm hiểu nhau, sau đó tự nguyện tiến tới hôn nhân và cưới nhau vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào năm 2019. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 02/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã và đã sống ly thân với nhau từ tháng 02/2023 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, chị về nhà mẹ ruột của chị ở tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang để sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Đức D có 01 con chung tên Nguyễn Huệ N, sinh ngày 19/8/2020, hiện đang sống với anh D. Khi ly hôn, chị đồng ý để cháu N cho anh D nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Do điều kiện ở xa và bận công việc nên chị xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, chị cam đoan không khiếu nại về việc Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt chị.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Đức D trình bày:
Anh và chị Thị Cẩm G chung sống xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau và chị G đã về sinh sống ở quê nhà của chị G ở Kiên Giang. Vì vậy, anh đồng ý ly hôn với chị G.
Về con chung: Anh và chị Thị Cẩm G có 01 con chung tên Nguyễn Huệ N, sinh ngày 19/8/2020, hiện đang sống với anh. Khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị G cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Do bận công việc nên anh xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, anh cam đoan không khiếu nại về việc Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Chị Thị Cẩm G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Đức D (nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Nguyên đơn chị Thị Cẩm G và bị đơn anh Nguyễn Đức D vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D.
- Về nội dung:
- Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào năm 2019, vì vậy, hôn nhân giữa chị G và D là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống giữa chị G, anh D hạnh phúc đến tháng 02/2023 thì phát sinh mẫu, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài, không thể hàn gắn được và anh, chị đã sống ly thân với nhau từ thời gian đó cho đến nay là đã hơn 02 năm. Trong thời gian ly thân, chị G và anh D vẫn không thể tự hòa giải, không có giải pháp khắc phục mâu thuẫn nên mâu thuẫn giữa anh, chị ngày càng trầm trọng. Anh, chị không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn, vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho chị G và anh D ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về con chung: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D khai anh, chị có 01 con chung tên Nguyễn Huệ N, sinh ngày 19/8/2020, hiện nay đang sống với anh D. Khi ly hôn, anh D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị G cũng đồng ý để con chung cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của anh D về việc không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng cho con chung.
- Về tài sản chung: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D cùng khai không có nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D cùng khai không có nên không xét đến.
Từ những nhận định trên, thấy rằng chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D thuận tình ly hôn, thỏa thuận về con chung, tài sản chung và nợ chung, căn cứ quy định tại các điều 51, 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận về nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung giữa chị Thị Cẩm G và Nguyễn Đức D.
- Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào năm 2019, vì vậy, hôn nhân giữa chị G và D là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D mỗi người phải chịu 150.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các điều 9, 51, 55, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D.
- Về con chung: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D khai anh, chị có 01 con chung tên Nguyễn Huệ N, sinh ngày 19/8/2020.
Anh Nguyễn Đức D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng chung.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Đức D không yêu cầu chị Thị Cẩm G phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Chị Thị Cẩm G có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Đức D cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Thị Cẩm G trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 1 và khoản 2 Điều 86, Điều 116 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và quyết định thay đổi mức cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D cùng khai không có nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị Thị Cẩm G và anh Nguyễn Đức D cùng khai không có nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Chị Thị Cẩm G phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0011142 ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Trả lại cho chị Thị Cẩm G số tiền chênh lệch là 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng.
Anh Nguyễn Đức D phải chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng và còn phải nộp đủ số tiền này.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thùy Dung |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thị Cẩm G - Nguyễn Đức D ly hôn
