Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2025

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG -TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông: Phạm Hồng Sơn
  • 2. Bà: Nguyễn Thị Bích Lam

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Bích Hà Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2025/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2025/QĐ-HPT ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim H, sinh năm 1993

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1989

Đăng ký thường trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.

Nơi ở hiện nay: Khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H trình bày:

- Về hôn nhân: Trước đây bà Phạm Thị Kim H với ông Trần Thanh H1 có tìm hiểu yêu thương, sau đó bà H với ông H1 được 02 bên gia đình tổ chức hỏi cưới theo phong tục truyền thống. Bà Phạm Thị Kim H với ông Trần Thanh H1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận vào năm 2019 (theo giấy chứng nhận đăng ký kết số 171 ngày 12 tháng 7 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung của vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau về vấn đề kinh tế của gia đình, mâu thuẫn giữa bà H và ông H1 ngày càng trở nên căng thẳng đến mức từ đầu năm 2023 bà H với ông H1 không còn chung sống với nhau, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, liên lạc với nhau.

Nay, bà Phạm Thị Kim H nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà với ông Trần Thanh H1 đã có sự mâu thuẫn trầm trọng, không hàn gắn lại được, vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và hiện nay bà H cũng không còn tình cảm với ông H1 nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh H1.

- Về con chung: Bà Phạm Thị Kim H với ông Trần Thanh H1 có 01 người con chung tên Trần Khải A, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019. Hiện bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi Trần Khải A đủ 18 tuổi. Bà H không yêu cầu ông Trần Thanh H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Trần Thanh H1 đã được Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Trần Thanh H1 không có mặt tại Tòa để trình bày ý kiến. Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không có mặt tại Tòa án.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến:

Về việc kiểm sát tuân theo pháp luật, thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân theo đúng các quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Về con chung: giao người con chung Trần Khải A cho bà Phạm Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi Trần Khải A đủ 18 tuổi. Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu ông Trần Thanh H1 cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; Về án phí: bà Phạm Thị Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Kim H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Thanh H1, giao cho bà được nuôi dưỡng con chung. Bị đơn ông Trần Thanh H1 có nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay tại huyện T, tỉnh Bình Thuận. Nên đây là quan hệ pháp luật về “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn ông Trần Thanh H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về hôn nhân:

Xét thấy, bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Thanh H1 đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Nay, bà H yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh H1 với lý do trong cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng bà có sự mâu thuẫn trầm trọng đến mức bà H và ông H1 không còn chung sống trong thời gian dài từ đầu năm 2023 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau.

Xét thấy, lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với nội dung Tòa án xác minh tại địa phương nơi bà H và ông H1 sinh sống, điều đó thể hiện hôn nhân của bà H và ông Hoàng L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và ổn định cuộc sống cho các bên, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Kim H.

- Về con chung:

Bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Thanh H1 có 01 người con chung tên Trần Khải A, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019.

Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Thanh H1 không còn sống chung cho đến nay, bà H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và hiện nay cuộc sống của cháu đang ổn định. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Kim H, giao người con tên Trần Khải A cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi Trần Khải A đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con:

Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu ông Trần Thanh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Ông Trần Thanh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về tài sản và nợ chung:

Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đề nghị tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị Kim H là người có yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

-Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

-Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

-Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H. Bà Phạm Thị Kim H được ly hôn với ông Trần Thanh H1.
  2. Về con chung: Bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Thanh H1 có 01 người con chung tên Trần Khải A, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019.

Giao người con chung tên Trần Khải A cho bà Phạm Thị Kim H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi Trần Khải A đủ 18 tuổi.

Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu ông Trần Thanh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/ Về án phí: Bà Phạm Thị Kim H phải nộp 300.000đồng(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng bà Phạm Thị Kim H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007345 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong nên tiền án phí sơ thẩm bà Phạm Thị Kim H đã nộp đủ.

4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/5/2025). Đối với bị đơn ông Trần Thanh H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - UBND TT Liên Hương;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị Kim H. Bà Phạm Thị Kim H được ly hôn với ông Trần Thanh H1. 2/ Về con chung: Bà Phạm Thị Kim H và ông Trần Thanh H1 có 01 người con chung tên Trần Khải A, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2019. Giao người con chung tên Trần Khải A cho bà Phạm Thị Kim H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi Trần Khải A đủ 18 tuổi. Bà Phạm Thị Kim H không yêu cầu ông Trần Thanh H1 cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger