Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2025

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân;

Bà Thạch Thị Lan Nhung.

- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 431/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Long Đinh K' N, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Nguyễn Minh N1, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

(chị N có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; còn anh N1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Long Đinh K' Ngân trình bày: Năm 2017, chị và anh N1 xây dựng gia đình với nhau trên cơ cở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/12/2018 theo giấy chứng nhận kết hôn số 150. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh được khoảng 01 năm thì chuyển về huyện L, tỉnh Lâm Đồng sinh sống. Sau khi kết hôn về sống chung với nhau cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2023 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống với nhau không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi nhau, anh N1 thường xuyên nhậu nhẹt về gây sự chửi bới chị. Chị đã nhiều lần nói chuyện với anh N1 để hàn gắn tình cảm nhưng không được. Năm 2023 chị đã làm đơn xin ly hôn với anh N1 ra Tòa án sau đó chị đã rút đơn xin ly hôn về để cho anh N1 có cơ hội thay đổi nhưng anh N1 vẫn không thay đổi. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể cứu vạn được, chị không còn tình cảm với anh N1 nữa và

vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Do đó chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N1.

Về con chung: Giữa chị và anh N1 có 02 con chung là Nguyễn Long Hoàng V, sinh ngày 21/11/2017 và Long Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 27/7/2022. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh N1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Minh N1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đến Tòa án làm việc; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn anh N1 từ chối làm việc, từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án; đồng thời, anh N1 xác định không có ý kiến trình bày gửi cho Tòa án và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không được do vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị L Đinh K' N, xử cho chị L Đinh K' N và anh Nguyễn Minh N1 được ly hôn.

Về con chung: Đề nghị giao cả 02 con chung là Nguyễn Long Hoàng V, sinh ngày 21/11/2017 và Long Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 27/7/2022 cho chị L Đinh K’ N là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của con; việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Long Đinh K' Ngân phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Long Đinh K' N có đơn xin xét xử vắng mặt; còn bị đơn anh Nguyễn Minh N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng và không thuộc trường hợp bất khả kháng nên căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Long Đinh K' N và anh Nguyễn Minh N1 xây dựng gia đình với nhau vào năm 2017, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/12/2018 theo giấy chứng nhận kết hôn số 150 nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh N1 là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N thì thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị N và anh N1 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống với nhau không có tiếng nói chung và anh N1 có uống rượu sau đó có cách cư xử không được tế nhị với chị N, thậm chí còn có nhiều lần đánh chị N dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Năm 2023 chị N đã làm đơn xin ly hôn với anh N1 ra Tòa án nhưng sau đó chị N đã rút đơn xin ly hôn về để cho anh N1 có cơ hội thay đổi nhưng anh N1 vẫn không thay đổi, đồng thời, quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh N1 cũng không hợp tác mà bỏ mặc đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N. Vì vậy, nếu cứ duy trì tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Do đó căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của chị N, xử cho chị N và anh N1 được ly hôn là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị N và anh N1 có 02 con chung là Nguyễn Long Hoàng V, sinh ngày 21/11/2017 và Long Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 27/7/2022. Khi ly hôn thì chị N đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho chị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến đủ tuổi trưởng thành thì thấy rằng: Qua xác minh thì được biết từ khi vợ chồng chị N sống ly thân vào năm 2023 cho đến nay thì cả 02 con chung đều do chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các cháu đều học tập và phát triển bình thường và có sự phụ giúp của gia đình ngoại. Bên cạnh đó, chị N làm nhân viên kế toán có công ăn việc làm và thu nhập ổn định; còn anh N1 không có công việc ổn định và phải đi thuê phòng trọ để ở; đồng thời, cháu V hiện đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định điều kiện chăm sóc, học tập và phát triển cho trẻ, cần giao cả 02 con chung là Nguyễn Long Hoàng V, sinh ngày 21/11/2017 và Long Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 27/7/2022 cho chị N là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu anh N1 phải cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định trong quá trình chung sống giữa chị và anh N1 không có tài sản chung và nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. Còn anh N1 không có ý kiến trình bày gửi cho Tòa án giữa anh và chị N có tài sản chung và nợ chung hay không nên không có cơ sở xem xét nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét bằng vụ án dân sự khác.

[5] Về án phí: Buộc chị Long Đinh K' Ngân phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị L Đinh K' N, xử cho chị L Đinh K' N và anh Nguyễn Minh N1 được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là Nguyễn Long Hoàng V, sinh ngày 21/11/2017 và Long Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 27/7/2022 cho chị Long Đinh K’ Ngân có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con; anh Nguyễn Minh N1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Long Đinh K' Ngân phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005022 ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Chị Long Đinh K' N đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Thị Luân Trần Minh Huấn
Thạch Thị Lan Nhung

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường 17, quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ, BP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Huấn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Thị Luân Trần Minh Huấn
Thạch Thị Lan Nhung
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân - Nhàn ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger