TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 6 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Khắc Thái.
- Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên tòa:
Bà Đinh Thị Ngần - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn D H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn D H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
(Chị H, anh N có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2025, Bản tự khai ngày 24/3/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N có đăng ký kết hôn ngày 21/5/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống cùng bố mẹ anh N tại thôn D H, xã T, huyện N. Từ khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh chị chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đánh chửi lẫn nhau. Nguyên nhân chính dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng chị là do vợ chồng không còn tin tưởng nhau về mặt tình cảm, mỗi lần anh N đi uống rượu về lại chửi bới, đánh đập chị. Đến tháng 10/2021, do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị H đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở cũng ở thôn D H, xã T, huyện N sinh sống. Từ đó anh chị sống ly thân không ai quan tâm tới ai nữa. Năm 2022, chị H đã làm đơn xin ly hôn anh N, xong được Tòa án động viên và vì thương con nên chị H đã xin rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, sau đó anh chị không về chung sống cùng nhau, mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện. Nay chị H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự sâu sắc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H xác định chị và anh Nguyễn Văn N có 04 con chung là các cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/3/2008; Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 21/4/2011; Nguyễn Hải Vũ P, sinh ngày 05/01/2013 và Nguyễn Đại Â, sinh ngày 23/8/2017. Hiện 02 cháu Thùy D, Lệ Q đang ở với chị H còn 02 cháu Vũ P, Đại  đang ở với anh N. Nếu ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Thùy D, Lệ Q còn anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Hải P và Đại Ân cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Văn N phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 28/5/2025, Biên bản hòa giải ngày 05/6/2025 và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh N xác định thời điểm đăng ký kết hôn, địa điểm chung sống của vợ chồng cũng như diễn biến quan hệ hôn nhân gia đình và nguyên nhân mâu thuân vợ chồng đúng như chị H đã trình bầy ở trên. Tại phiên tòa, anh N cho rằng quá trình vợ chồng chung sống chị H không tôn trọng anh nên dẫn tới vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh, anh không nhất trí vì anh không muốn con cái phải sống cảnh thiếu bố, thiếu mẹ. Mặt khác, gia đình anh N theo đạo công giáo nên không được phép ly hôn. Nếu chị H cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn N xác định anh và chị Nguyễn Thị H có 04 con chung là các cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/3/2008; Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 21/4/2011; Nguyễn Hải Vũ P, sinh ngày 05/01/2013 và Nguyễn Đại Â, sinh ngày 23/8/2017. Hiện 02 cháu Thùy D, Lệ Q đang ở với chị H còn 02 cháu Vũ P, Đại  đang ở với anh N. Nếu ly hôn, theo nguyện vọng của các con nên anh đồng ý để chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Thùy D, Lệ Q còn anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu Vũ P, Đại Ân cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn N không yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh N.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của cháu Nguyễn Thùy D: Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Ý kiến của cháu Nguyễn Thị Lệ Q: Cháu muốn được ở cả với bố và mẹ chứ cháu không chọn ở với bố hoặc ở riêng với mẹ.
Ý kiến của cháu Nguyễn Hải Vũ P và cháu Nguyễn Đại Â: Cháu P và cháu  có nguyện vọng được ở với bố.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành giải quyết theo quy định. Do các bên không thỏa thuận được với nhau nên vụ án thuộc trường hợp hòa giải không thành. Vì vậy, vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện Nho Quan thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đảm bảo về hình thức, nội dung.
- - Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/3/2008 và cháu Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 21/4/2011 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Hải Vũ P, sinh ngày 05/01/2013 và cháu Nguyễn Đại Â, sinh ngày 23/8/2017 cho anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về án phí ly hôn: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình ngày 21/5/2008 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp. Chị H, anh N đều thừa nhận do không tin tưởng nhau về mặt tình cảm và quá trình chung sống vợ chồng không có sự tôn trọng nhau nên giữa anh chị đã xảy ra mâu thuẫn từ lâu. Từ tháng 10/2021, chị H đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn D H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình sinh sống. Chị H, anh N sống ly thân không ai quan tâm đến ai từ đó cho đến nay. Năm 2022, chị H cũng đã làm đơn xin ly hôn anh N, xong được Tòa án động viên và thương con nên chị H đã rút đơn khởi kiện. Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Hôn nhân và gia Gình số 31/2022/QÐST-HNGĐ ngày 30/6/2022. Tuy nhiên, sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án anh chị cũng không về chung sống với nhau, mâu thuẫn vợ chồng vẫn không được cải thiện. Bản thân anh N không đồng ý ly hôn vì anh không muốn con cái phải sống cảnh thiếu bố, thiếu mẹ và gia đình anh N theo đạo công giáo nên anh N cho rằng mình không được phép ly hôn. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H, anh N chỉ tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn giữa chị H, anh N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H là có căn cứ theo khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N xác định anh chị có 04 con chung là các cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/3/2008; Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 21/4/2011; Nguyễn Hải Vũ P, sinh ngày 05/01/2013 và Nguyễn Đại Â, sinh ngày 23/8/2017. Hiện 02 cháu Thùy D, Lệ Q đang ở với chị H còn 02 cháu Vũ P, Đại  đang ở với anh N. Nếu ly hôn, chị H, anh N đều thống nhất chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Thùy D, Lệ Q còn anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Vũ P, Đại Ân cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của chị H, anh N, phù hợp với quy định của pháp luật. Theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 08/5/2025, chị H, anh N đều làm lao động tự do, quá trình sinh sống tại địa phương không ai vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Mặt khác, hai cháu Thùy D, Lệ Q đều là con gái, hiện đang ở với chị H còn 02 cháu Vũ P, Đại Ân có nguyện vọng được ở với bố và hiện đang ở với anh N. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định cho các cháu cần giao 02 cháu Thùy D, Lệ Q cho chị H và giao 02 cháu Hải P, Đại Ân cho anh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn N đều tự nguyện không yêu cầu nên không buộc chị H, anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.5]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn N chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:
Giao cho chị Nguyễn Thị H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 08/3/2008; Nguyễn Thị Lệ Q, sinh ngày 21/4/2011 cho đến khi 02 cháu Thùy D, Lệ Q đủ 18 tuổi.
Giao cho anh Nguyễn Văn N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Nguyễn Hải Vũ P, sinh ngày 05/01/2013 và cháu Nguyễn Đại Â, sinh ngày 23/8/2017 cho đến khi 02 cháu Vũ P, Đại Ân đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001525 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
- Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN HNGĐ SỐ 44 GIỮA CHỊ NGUYỄN THỊ H VÀ ANH NGUYỄN VĂN N
