Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/3/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hữu Tới.

Bà Phạm Thị Sơn.

Thư ký Tòa án: bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 24/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 129/2024/TLST-HNGĐ ngày 19/7/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/02/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Địa chỉ hiện nay: Số B H-so, 306 M, M-cho, Miura-shi, K, Nhật Bản.

Người được nguyên đơn ủy quyền giao nhận tài liệu, văn bản của Tòa án:

- Bà Nguyễn Thị H1.

Địa chỉ: thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Ông Đỗ Minh T1.

Địa chỉ: Số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT: thôn Y, xã Đ, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ hiện nay: Số G đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thu H trình bày:

  • - Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Đình T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 27/02/2015 tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên thường hay xích mích, cãi cọ lẫn nhau, khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Mặc dù đã được hai bên gia đình động viên, khuyên giải, bản thân anh chị đã hết sức cố gắng nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Sau đó, từ năm 2018 chị đi Nhật Bản làm ăn đến nay chưa về, vợ chồng sống ly thân nhau, không còn tình cảm và không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T2.

  • - Về con chung: chị và anh T2 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thiên B - sinh ngày 25/6/2016, hiện nay cháu B đang ở với anh T2. Nguyện vọng của chị khi ly hôn là muốn để anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thiên B, do chị vẫn còn hạn hợp đồng lao động tại Nhật Bản, chưa thể về Việt Nam để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con được. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T2 mỗi tháng 2.000.000đ, kể từ khi Tòa án giải quyết ly hôn cho đến khi cháu B đủ tuổi thành niên.

  • - Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Đình T2 trình bày:

  • - Về hôn nhân: anh và chị Lê Thị Thu H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 27/02/2015 tại UBND xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn xảy ra. Chỉ có lý do chị H đòi đi miền N sinh sống, nhưng anh không đồng ý nên chị H không hài lòng. Đến năm 2018 chị H đi lao động tại Nhật Bản đến tháng 2/2024 về một lần, rồi lại tiếp tục đi đến nay chưa về Việt Nam. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý, anh yêu cầu chị H về nước để vợ chồng gặp nhau nói chuyện, anh không đồng ý ly hôn khi chị H chưa về nước.

  • - Về con chung: anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thiên B - sinh ngày 25/6/2016, hiện nay cháu B đang ở với anh. Nếu vợ chồng phải ly hôn thì anh có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thiên B, vì từ khi chị H đi Nhật Bản thì cháu B ở với anh và ông bà nội cháu. Anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

  • - Về tài sản, công nợ chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Lê Thị Thu H hiện đang sinh sống tại Nhật Bản làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đình T2 có hộ khẩu thường trú tại thôn Y, xã Đ, huyện Đ (nay là thành phố T), tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã xuất cảnh đi lao động tại Nhật Bản, chưa nhập cảnh về nước. Vì vậy, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Chị Lê Thị Thu H có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Đình T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh T2, chị H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: chị Lê Thị Thu H và anh Nguyễn Đình T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, ngày 27/02/2015 được UBND xã A, huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T2 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, nên thường hay xích mích, cãi cọ lẫn nhau, khiến cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải, anh chị cũng hết sức cố gắng, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được, mâu thuẫn vẫn tiếp tục xảy ra và ngày càng nghiêm trọng hơn. Sau đó, từ năm 2018 đến nay chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, tháng 02/2024 về một lần rồi lại tiếp tục đi đến nay chưa về, nên tình cảm vợ chồng không còn, đã sống ly thân nhau và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Qua đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T2 không có sự vun đắp từ hai phía, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Chị H đến nay vẫn chưa về nước, vợ chồng sống xa nhau nên tình cảm dần phai nhạt. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn anh T2, anh T2 không đồng ý ly hôn, yêu cầu chị H về nước để vợ chồng nói chuyện. Tuy nhiên, xét thấy chị H khởi kiện cương quyết xin ly hôn, không yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải, anh T2 không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp nào hàn gắn, chị H vẫn cương quyết xin ly hôn, không rút đơn khởi kiện.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T2 xảy ra đã lâu, mức độ đã trầm trọng, đã sống ly thân nhau nên thực tế tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn anh T2 là có căn cứ.

[2.2] Về con chung: chị Lê Thị Thu H và anh Nguyễn Đình T2 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thiên B - sinh ngày 25/6/2016, hiện nay cháu B đang ở với anh T2. Nguyện vọng của chị H và anh T2 khi ly hôn là muốn để anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Anh T2 không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T2 mỗi tháng 2.000.000đ, kể từ khi Tòa án giải quyết ly hôn cho đến khi cháu B đủ tuổi thành niên.

HĐXX xét thấy, cháu Nguyễn Đình Thiên B là con chung của chị H và anh T2, cháu B chưa đủ tuổi thành niên nên cần phải giao cho bố hoặc mẹ cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay chị H đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, nên không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con được, cháu B hiện đang ở với bố và ông nội, cháu có nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy, xét thấy cần giao cháu Nguyễn Đình Thiên B cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu. Anh T2 không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Tuy nhiên, chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T2 mỗi tháng 2.000.000đ, kể từ khi Tòa án giải quyết ly hôn cho đến khi cháu B đủ tuổi thành niên. Xét đây là sự tự nguyện của chị H, nên chấp nhận.

Chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản, công nợ chung: chị Lê Thị Thu H và anh Nguyễn Đình T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: chị Lê Thị Thu H phải nộp án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 6; điểm a Khoản 1 Điều 24; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu H.

  • - Về hôn nhân: chị Lê Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Đình T2.

  • - Về con chung: chị Lê Thị Thu H và anh Nguyễn Đình T2 có 01 con chung là cháu Nguyễn Đình Thiên B - sinh ngày 25/6/2016.

Giao cháu Nguyễn Đình Thiên B cho anh T2 trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T2 mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng), kể từ tháng 3/2025 cho đến khi cháu B đủ tuổi thành niên.

Chị H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  • - Về tài sản, công nợ chung: chị Lê Thị Thu H và anh Nguyễn Đình T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết

  • - Về án phí: chị Lê Thị Thu H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do chị Lê Thị T3 nộp thay 300.000đ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000431 ngày 17/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H đã nộp đủ án phí.

  • - Về quyền kháng cáo: anh Nguyễn Đình T2 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Chị Lê Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger