Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 6 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Vạn Thế.
  2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhựt Hồ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 131/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 2000. (Vắng mặt có đơn)

Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Phước L, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Nguyễn Thị Yến N trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2017, chị N và anh L quen biết, hai người tìm hiểu nhau rồi kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2019, được Ủy ban nhân dân xã B Trung cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng 02 năm nay quá trình sống chung vợ chồng không cùng quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh L thường xuyên nhậu nhẹt về dùng lời lẽ xúc phạm chị N và cha mẹ chị N. Nhiều lần như vậy nhưng anh L không thay đổi, lâu dần tình cảm vợ chồng phai nhạt. Khoảng đầu năm 2025, chị N đi làm và về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Hiện nay vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc gì nhau, về kinh tế mỗi người tự lo cuộc sống riêng, cuộc sống không còn liên quan nhau, chị N đã không còn tình cảm với anh L nữa, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh L.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 22/02/2019, hiện nay đang do anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị N đồng ý giao con chung cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2025, cho đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn là anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, bản photo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn và các văn bản tố tụng khác, nhưng bị đơn không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 09 tháng 02 năm 2025 và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang chấp giữa các đương sự là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Phước L, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Yến N có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Nguyễn Phước L vắng mặt không lí do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Yến N vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện cho rằng, chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Phước L kết hôn vào ngày 22/3/2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, được công nhận là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị Nguyễn Thị Yến N cho rằng thời gian gần đây cuộc sống cuộc sống vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng cũng đã phai nhạt và đã ly thân. Nên chị Nguyễn Thị Yến N yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anhNguyễn Phước L. Anh Nguyễn Phước L vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Hội đồng xét xử, xét thấy: Tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Phước L không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Phước L ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Phước L có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 22/02/2019, hiện do anh Nguyễn Phước L trực tiếp nuôi dưỡng. Nay chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Phước L ly hôn, chị Nguyễn Thị Yến N tự nguyện giao con chung cho anh Nguyễn Phước L trực tiếp nuôi dưỡng. Còn với anh Nguyễn Phước L không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 22/02/2019 cho anh Nguyễn Phước L tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Thị Yến N và anh Nguyễn Phước L có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không bên nào được quyền ngăn cấm. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Yến N được quyền thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Yến N vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Thị Yến V mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2025, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Còn anh Nguyễn Phước L vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến và không có yêu cầu chị Nguyễn Thị Yến N cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thị Yến V nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Yến N.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Yến N với anh Nguyễn Phước L không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chị Nguyễn Thị Yến N nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N. Cho chị Nguyễn Thị Yến N ly hôn với anh Nguyễn Phước L.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Yến V, sinh ngày 22/02/2019 (Con chung hiện anh L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng) cho Nguyễn Phước L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Yến N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Thị Yến V mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2025, cho đến khi con chung tên Nguyễn Thị Yến V đủ 18 tuổi, tự lao động, sinh sống được.

    Chị Nguyễn Thị Yến N và anh Nguyễn Phước L có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Yến V không bên nào được quyền ngăn cấm. Chị Nguyễn Thị Yến N được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị Yến N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0007424, ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Chị Nguyễn Thị Yến N phải nộp tiếp 300.000 đồng.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Yến N và anh Nguyễn Phước L vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - THA dân sự huyện;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Vào năm 2017, chị Nhi và anh Lộc quen biết, hai người tìm hiểu nhau rồi kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2019, được Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh Trung cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Khoảng 02 năm nay quá trình sống chung vợ chồng không cùng quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh Lộc thường xuyên nhậu nhẹt về dùng lời lẽ xúc phạm chị Nhi và cha mẹ chị Nhi. Nhiều lần như vậy nhưng anh Lộc không thay đổi, lâu dần tình cảm vợ chồng phai nhạt. Khoảng đầu năm 2025, chị Nhi đi làm và về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Hiện nay vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc gì nhau, về kinh tế mỗi người tự lo cuộc sống riêng, cuộc sống không còn liên quan nhau, chị Nhi đã không còn tình cảm với anh Lộc nữa, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nhi yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Lộc. Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thị Yến Vy, sinh ngày 22/02/2019, hiện nay đang do anh Lộc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị Nhi đồng ý giao con chung cho anh Lộc tiếp tục nuôi dưỡng, chị Nhi tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2025, cho đến khi con chung trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger