|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày 14/02/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đặng Thị Thảo Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Tư
Bà Âu Thị Ngọc Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 576/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Minh G, sinh năm 1984 (xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
Bị đơn: Anh Trần Thanh T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp L, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 07/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Minh G trình bày: Chị và anh Trần Thanh T xác lập quan hệ hôn nhân năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là xã T), huyện T, tỉnh Long An, giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 31/12/2009. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị và anh T sống ly thân từ năm 2012 kéo dài đến nay nhưng không có biện pháp hàn gắn đoàn tụ, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Lê Hoàng N, sinh ngày 15/10/2010, cháu đang sống chung với chị nên sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
Tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh T đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn, nuôi con của chị G.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị G có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Năm 2009 chị G và anh T xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là xã T), huyện T, tỉnh Long An, giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 31/12/2009, nên là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân chị G yêu cầu ly hôn là do tính tình của anh chị không hợp nhau, thường xuyên cãi vã nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thời gian sống ly thân kéo dài từ năm 2012 đến nay nhưng vẫn không hòa giải đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án chị G cương quyết ly hôn còn anh T thì không đến Tòa án trình bày ý để bảo vệ quyền lợi của mình, điều này chứng tỏa anh T cũng không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu ly hôn của chị G là có cơ sở chấp nhận.
[3] Con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Lệ Hoàng N, sinh ngày 15/10/2010 đang sống chung với chị G, nên chị yêu cầu được tiếp tục con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, thời gian vợ chồng sống ly thân chị G là người trực tiếp nuôi con và cháu N vẫn được chị G chăm sóc tốt. Mặc khác, tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân và điều kiện nuôi con ngày 12/12/2024, thì chị G đang có việc làm và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con còn anh T thì cũng không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu N cho chị G nuôi dưỡng sẽ đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của cháu, anh T không cần phải cấp dưỡng nuôi con do chị G không yêu cầu.
[4] Tài sản chung và nợ chung: Chị G trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị G phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Minh G.
- Quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Minh G được ly hôn với anh Trần Thanh T.
- Con chung: Giao con chung tên Trần Lê Hoàng N, sinh ngày 15/10/2010 cho chị Lê Thị Minh G trực tiếp nuôi, anh Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Lê Thị Minh G không yêu cầu.
Anh Trần Thanh T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
- Án phí: Chị Lê Thị Minh G phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016000 ngày 17 tháng 10 năm 2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Lê Thị Minh G đã thi hành xong án phí.
- Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thảo Lan |
3
4
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho chị Lê Thị Minh Giao được ly hôn với anh Trần Thanh Tuấn.
