|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST Ngày: 10/6/2025 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Mai Văn Xuân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Trần Quốc Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 20 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Bích D, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ B, Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, thị xã H, thành phố H. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lê Bích D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 24/3/2021 tại UBND phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Sau khi kết hôn vợ chồng cùng nhau chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian ngắn. Từ tháng 11 năm 2023 đến nay giữa vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tôn trọng nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Nay chị thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm, không thể níu kéo được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Văn Bảo K, sinh ngày 13/7/2021, hiện nay cháu K đang ở với anh T nên chị đồng ý giao cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị cấp dưỡng cho cháu K mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía bị đơn, anh Lê Văn T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cũng như các văn bản tố tụng, nhưng bị đơn không đến làm việc nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Tuy nhiên, tại phiên toà hôm nay, anh T có mặt và trình bày:
Về quan hệ hôn nhân đúng như chị D đã trình bày. Hiện tại vợ chồng anh đã tồn tại mâu thuẫn lâu ngày, hai bên hiện sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Chị D đề nghị ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Văn Bảo K, sinh ngày 13/7/2021, hiện đang ở với anh. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành; chị D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng thì anh đồng ý.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị L, là mẹ của anh Lê Văn T, được biết: Hiện tại chị D và anh T đã sống ly thân, hai bên không nói gì với gia đình về mâu thuẫn nên bà không rõ và không can thiệp. Chị D, anh T có 01 con chung tên là Lê Văn Bảo K, sinh ngày 13/7/2021, hiện đang ở với anh T được chăm sóc đầy đủ về vật chất và tinh thần. Nay chị D có đơn ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/5/2025, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã tiến hành xác minh tại UBND phường phường H, thị xã H được biết: Quá trình chung sống, vợ chồng chị D, anh T có xảy ra mâu thuẫn nên chị D đã bỏ về nhà bố mẹ chị để sinh sống. Hiện nay anh T thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Nay chị D có đơn yêu cầu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Lê Bích D, cho chị D được ly hôn anh Lê Văn T. Về con chung: Hiện nay cháu Lê Văn Bảo K đang ở với anh T ổn định, nên giao cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị D cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên Tòa án không phải giải quyết. Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là chị Lê Bích D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Bích D và anh Lê Văn T tự nguyện kết hôn, đã đăng ký kết hôn ngày 24/3/2021 tại UBND phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đúng quy định nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét quá trình chung sống, giữa chị D và anh T đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tôn trọng nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị D, anh T đã kéo dài và ngày càng trầm trọng, không thể cùng nhau chung sống được nữa, dẫn đến tình trạng ly thân nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị D xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Văn Bảo K, sinh ngày 13/7/2021, hiện đang ở với anh T ổn định, được yêu thương và chăm sóc chu đáo. Quá trình giải quyết vụ án, chị D có ý kiến đồng ý giao cháu K cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành; chị D tự nguyện cấp dưỡng cho cháu K mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Xét yêu cầu của chị D về vấn đề nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Bích D và anh Lê Văn T đều không yêu cầu, nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Bích D phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử: Chị Lê Bích D được ly hôn với anh Lê Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên là Lê Văn Bảo K, sinh ngày 13/7/2021 cho anh Lê Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành;
Chị Lê Bích D cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ khi Bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung Lê Văn Bảo K đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật;
Chị Lê Bích D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Lê Bích D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001694 ngày 16/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, thành phố H. Chị Lê Bích D còn phải nộp thêm 300.000 đồng.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai. Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mộng Trinh |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÊ BÍCH DIÊM VÀ LÊ VĂN TỊNH
