TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 9 - 2025
V/v “ Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Văn Hải
Ông: Lê Đình Chiến
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L – Sinh năm 1996
SỐ CCCD: [...]
Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Thanh Hóa
- - Bị đơn: Anh Cao Văn H - Sinh năm 1992
Số CCCD: [...]
Người đại diện hợp pháp cho anh H: Ông Cao Văn D – Bố đẻ
Đều có địa chỉ tại: Thôn N, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị L trình bày như sau: Chị và anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã N nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/11/2020. Sauk hi kết hôn được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không có con, tính tình không hợp nhau, hay cãi nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Gia đình hai bên đã nhiều lần góp ý, hòa giải nhưng cuộc sống giữa hai vợ chồng không cãi thiện được. Từ năm 2021, chị L đã về nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị với anh H không có con chung. Trong thời gian chị sống ly thân với anh H thì có sinh được một bé gái là Nguyễn Ngọc Á – sinh ngày 02/5/2025, đây không phải là con của anh H mà là con riêng của chị.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án xác định anh Cao Văn H hiện là người khuyết tật nặng và đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội dành cho người khuyết tật nặng, bố anh H, được sự đồng ý của anh H, ông Cao Văn D là người đại diện hợp pháp cho anh H trình bày như sau:
Về hôn nhân: Anh H và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã T, thị xã N nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/11/2020. Sau khoảng hơn một năm chung sống cùng nhau thì hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau và hay xảy ra bất đồng. Đến năm 2021, thì chị L về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó không còn liên lạc với nhau. Nay chị L làm đơn ra Tòa đề nghị giải quyết ly hôn thì con trai ông cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Giữa con trai ông là Cao Văn H và chị L không có con chung. Theo ông được biết sau khi chị L về nhà mẹ đẻ ở thì có sinh con nhưng đây không phải là con chung của chị L và con trai ông Cao Văn H.
Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Thanh Hóa tại phiên tòa như sau: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều147; Điều 228, Điều 271 BLTTDS ; Căn cứ vào khoản 3 Điều 24, Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L. Về hôn nhân: Xử cho chị L được ly hôn với anh Cao Văn H; Về con chung: Không có con chung; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị L phải nộp án phí dân sự về việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Cao Văn H là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ thường trú trên địa bàn xã T, tỉnh Thanh Hóa thuộc thẩm quyền của TAND Khu vực 9 – Thanh Hóa.
Hiện tại anh H đang là người được hưởng chế độ bảo trợ xã hội theo Quyết định số 8724/QĐ-UBND, ngày 21/10/2024 của UBND thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Chị L và ông Cao Văn D là bố đẻ của anh H đều thừa nhận hiện tại anh H đi lại khó khăn, là người khuyết tật nặng hiện được hưởng chế độ bảo trợ xã hội và không có đề nghị Tòa án tuyên bố anh H là người mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế về mặt nhận thức nên Tòa án không buộc phải đưa anh Cao Văn H đi giám định về khả năng nhận thức của anh H. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh H, Tòa án đưa ông Cao Văn D là bố đẻ anh H vào tham gia với tư cách người đại diện hợp pháp cho anh Cao Văn H.
Vụ án thuộc trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ và bị đơn là người được hưởng chế độ bảo trợ xã hội theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 BLTTDS. Nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Chị Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Cao Văn D bố đẻ anh H đề nghị do anh H là người khuyết tật nặng, đi lại khó khăn nên xin được vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt chị Nguyễn Thị L, ông Cao Văn D và anh Cao Văn H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Hòa kết H2 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, năm 2021 chị L và anh H đã sống ly thân cho đến thời điểm hiện nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Ông Cao Văn D là bố đẻ của anh Cao Văn H trình bày có xác nhận của chính quyền địa phương: Hiện tại anh H là người khuyết tật nặng, đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội theo Quyết định số 8724/QĐ-UBND, ngày 21/10/2024 của UBND thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, xác định: Giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống cùng nhau đã phát sinh mâu thuẫn, từ năm 2021, chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở và không liên lạc với anh H. Nay chị L làm đơn ly hôn anh H cũng đồng ý.
Qua phần trình bày của các đương sự HĐXX nhận thấy cả anh H và chị L trong quá trình sinh sống đã phát sinh mâu thuẫn, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống không hạnh phúc nên căn cứ Điều 51 và 56 Luật HN&GĐ xử cho chị L được ly hôn với anh H.
[3] Về con chung: Theo trình bày của chị L và ông Cao Văn D hiện tại chị L có sinh một bé gái cháu Nguyễn Ngọc Á – sinh ngày 02/5/2025, do chị tự đặt tên, căn cứ kết luận giám định AND của Viện công nghệ A và phân tích di truyền – GENLAB kết luận anh Cao Văn H không có quan hệ huyết thống với cháu Nguyễn Ngọc Á – sinh ngày 02/5/2025. Vì vậy cháu Nguyễn Ngọc Á không phải là con chung của chị Nguyễn Thị L và anh Cao Văn H. Đủ cơ sở để HĐXX xác định chị L và anh H không có con chung.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc chị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được HĐXX chấp nhận:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều147; khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 BLTTDS; Căn cứ vào khoản 3 Điều 24, Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Cao Văn H.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Cao Văn H không có con chung.
- Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002020 ngày 29 tháng 07 năm 2025 của THADS tỉnh T. Chị L đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Cúc |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 09/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị và anh H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã N nay là xã T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 06/11/2020. Sauk hi kết hôn được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không có con, tính tình không hợp nhau, hay cãi nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Gia đình hai bên đã nhiều lần góp ý, hòa giải nhưng cuộc sống giữa hai vợ chồng không cãi thiện được. Từ năm 2021, chị L đã vè nhà mẹ đẻ ở cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
