TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - NINH BÌNH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 12 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc Bích.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Khảnh, ông Vũ Xuân Trúc.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08/12/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 142/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 06/03/1996;
Giấy Căn cước công dân số: [...]Cấp ngày: 17/06/2021
Địa chỉ: Thôn C, xã Ý, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: Anh Hà Đình P, sinh ngày 04/04/1982;
Giấy Căn cước công dân số: [...]Cấp ngày: 02/07/2021
Địa chỉ: Thôn C, xã Ý, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa: Vắng mặt chị H, anh P (Chị H, anh P có đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Hà Đình P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định ngày 10/4/2014 (nay là xã Ý, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng một vài năm trở lại đây có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, khiến cuộc sống luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình giải quyết cho chị ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015. Chị Hợp đồng Ý để cả 02 con chung cho anh P nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, giấy triệu tập anh Hà Đình P đến làm việc. Tại Bản tự khai anh P cho biết: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định ngày 10/4/2014 (nay là xã Ý, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng một vài năm trở lại đây giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị H kiên quyết xin ly hôn, anh P cũng đồng ý. Anh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình giải quyết ly hôn cho anh chị theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị H, anh P có 02 con chung là Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015 hiện nay đang ở cùng anh. Anh xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con, còn thực tế chị H có trách nhiệm gì với con chung hay không là tuỳ thuộc vào chị H.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh P có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
3. Trong đơn trình bày nguyện vọng của Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015 trình bày nguyện vọng xin được ở cùng anh Hà Đình P.
4. Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện nội dung: Anh Hà Đình P và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định ngày 10/4/2014 (nay là xã Ý, tỉnh Ninh Bình). Quá trình chung sống, anh P và chị H có xảy ra mâu thuẫn gì hay không, nguyên nhân mẫu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương cũng như gia đình không nắm rõ, chỉ biết rằng hiện nay anh P, chị H không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau và hiện đang sống ly thân. Về con chung: Anh P và chị H có 02 con chung là Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015 cả 02 con chung đang ở cùng anh P và ông bà nội. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân giữa anh P, chị H cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm rõ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H, địa phương cũng như gia đình đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh P, anh P biết việc chị H xin ly hôn tại Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình nhưng do bận đi làm nên không đến Tòa án để giải quyết vụ án được. Quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
5. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ban hành Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại buổi làm việc chị H có đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được cho anh chị theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh P theo quy định tại khoản 3 Điều 210 và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa:
Chị H, anh P có đề nghị giải quyết vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa công bố đề nghị của chị H, anh P về việc xét xử vắng mặt. Vụ án được xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cả 02 con chung Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015 cho anh Hà Đình P trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Hà Đình P có nơi cư trú tại thôn C, xã Ý, tỉnh Ninh Bình nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.
- Về việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án chị H, anh P có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hà Đình P tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào 10/04/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định cũ, nay là xã Ý, tỉnh Ninh Bình. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị được ly hôn với anh P. Về phía anh P, anh cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng phù hợp như lời khai của chị H. Mặc dù anh không mong muốn việc ly hôn nhưng chị H kiên quyết thì anh nhất trí ly hôn và có đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị được ly hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, chị H đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải vụ án và kiên quyết xin ly hôn anh P nên Tòa án không thể hàn gắn tình cảm cho anh, chị được. Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần ghi nhận sự thuận tình ly hôn của chị H, anh P, xử cho anh, chị ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh P có 02 con chung Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015. Việc chăm sóc, nuôi dạy con chung chưa thành niên là trách nhiệm, nghĩa vụ, là quyền lợi của cha mẹ. Xét thấy, chị H và anh P thống nhất để anh P là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung sau khi ly hôn. Hai con chung đang ở với anh P và cùng có nguyện vọng xin được ở với bố. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần ghi nhận sự thống nhất của anh chị, giao cả 02 con chung là cháu K, cháu Đ cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng để con chung được phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H, anh P về việc không đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Chị H, anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hà Đình P.
2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là Hà Duy K, sinh ngày 29/12/2013 và Hà Duy Đ, sinh ngày 14/09/2015 cho anh Hà Đình P trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị H, anh P không yêu cầu giải quyết.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó; Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001608 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, chị H đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo của đương sự: Chị Nguyễn Thị H, anh Hà Đình P vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Ninh Bình;
- - VKSND khu vực 8 - Ninh Bình;
- - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
- - Các đương sự;
- - UBND xã Y, tỉnh Ninh Bình;
- - Hồ sơ vụ án;
- - Lưu VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Thị Ngọc Bích
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Hà Đình P
