TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 3 - 2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Trọn.
Ông Trần Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 355/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Tiến Đ, sinh năm 1994 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1994 (vắng mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 11 năm 2024 nguyên đơn ông Lê Tiến Đ trình bày:
Vào năm 2015, ông Lê Tiến Đ và bà Nguyễn Thị B chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau vào ngày 27 tháng 7 năm 2015, Giấy chứng nhận kết hôn số 122/2015. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm cũng như về lối sống, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thể hàn gắn được. Ông Đ và bà B đã ly thân từ tháng 4 năm 2023 đến nay. Nay ông Lê Tiến Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị B.
Về con chung: Quá trình sống chung giữa ông Đ và bà B có 04 người con chung tên Lê Công D, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2016, Lê Đăng Q, sinh ngày 01 tháng 4 năm 2018, Lê Kim L, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2020 và Lê Công Đ1, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2021. Khi ly hôn, ông yêu cầu được nuôi dưỡng Lê Công D và Lê Đăng Q, yêu cầu giao Lê Kim L và Lê Công Đ1 cho bà B nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bà Nguyễn Thị B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng bà B vẫn không tham gia tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho ông Lê Tiến Đ ly hôn với bà Nguyễn Thị B; Về con chung: Có 04 người con chung tên Lê Công D, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2016, Lê Đăng Q, sinh ngày 01 tháng 4 năm 2018, Lê Kim L, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2020 và Lê Công Đ1, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2021. Khi ly hôn, ông yêu cầu được nuôi dưỡng Lê Công D và Lê Đăng Q, yêu cầu giao Lê Kim L và Lê Công Đ1 cho bà B nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Riêng Lê Công D và Lê Đăng Q đang sống chung với ông Đ. Ông Lê Tiến Đ yêu cầu yêu cầu nuôi dưỡng Lê Công D và Lê Đăng Q, cháu D có nguyện vọng sống chung cùng với ông Đ nên chấp nhận yêu cầu của ông Lê Tiến Đ là phù hợp. Riêng hai cháu L và cháu Đ1 đang do bà B nuôi dưỡng nên ông Đ yêu cầu giao cho bà B nuôi dưỡng là phù hợp. Về tài sản chung và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nội dung tranh chấp giữa ông Lê Tiến Đ với bà Nguyễn Thị B được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị B là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị B.
[3] Về hôn nhân: Vào năm 2015 ông Lê Tiến Đ với bà Nguyễn Thị B sống chung với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân của ông Lê Tiến Đ với bà Nguyễn Thị B là hợp pháp. Quá trình sống chung ông Lê Tiến Đ cho rằng ông và bà B xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay mà không thể hàn gắn tình cảm. Ông Lê Tiến Đ xác định không còn tình thương dành cho bà B và ông Đ yêu cầu ly hôn bà B.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của ông Lê Tiến Đ với bà Nguyễn Thị B không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa ông Lê Tiến Đ với bà Nguyễn Thị B đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Bà B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không tham gia tố tụng, cho thấy bà B không mong muốn hàn gắn đoàn tụ. Đối với yêu cầu của ông Đ, bà B không có ý kiến gì. Xét cho ông Lê Tiến Đ ly hôn với bà Nguyễn Thị B là có cơ sở.
[4] Về con chung: Quá trình sống chung ông Đ và bà B có 04 người con chung tên Lê Công D, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2016, Lê Đăng Q, sinh ngày 01 tháng 4 năm 2018, Lê Kim L, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2020 và Lê Công Đ1, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2021. Khi ly hôn, ông Đ yêu cầu được nuôi dưỡng Lê Công D và Lê Đăng Q. Cháu Lê Công D và Lê Đăng Q đang sống chung với ông Đ. Để đảm bảo sự phát triển bình thường cho các cháu và mặt khác, cháu D có nguyện vọng sống chung cùng với ông Đ nên chấp nhận yêu cầu của ông Lê Tiến Đ là phù hợp. Riêng hai cháu L và cháu Đ1 đang do bà B nuôi dưỡng nên ông Đ yêu cầu giao cho bà B nuôi dưỡng là phù hợp. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
[5] Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[6] Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[7] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.
[8] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê Tiến Đ phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Lê Tiến Đ ly hôn với bà Nguyễn Thị B.
- Về con chung: Giao Lê Công D, sinh ngày 20 tháng 02 năm 2016 và Lê Đăng Q, sinh ngày 01 tháng 4 năm 2018 cho ông Lê Tiến Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao Lê Kim L, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2020 và Lê Công Đ1, sinh ngày 08 tháng 11 năm 2021 cho bà Nguyễn Thị B tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Bà Nguyễn Thị B và ông Lê Tiến Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê Tiến Đ phải chịu 300.000 đồng. Ông Lê Tiến Đ đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003570 ngày 25/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Ông Lê Tiến Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Đ yêu cầu ly hôn với bà B
