|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03/11/2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Ngô Thị Mây.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Tuấn Anh và bà Vũ Thị Xuyến.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1997.
Địa chỉ: tổ A, khu L, phường U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Phan Thanh H1, sinh năm 1997.
Nơi thường trú: tổ D, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ A, khu B, phường U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần hai tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày: Chị Trần Thị Thu H kết hôn tự nguyện với anh Phan Thanh H1 vào ngày 22 tháng 4 năm 2024 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Y (nay là phường U) tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng có thời gian chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị H, có thời gian chung sống tại nhà mẹ đẻ anh H1 đều thuộc phường Y (nay là phường U) tỉnh Quảng Ninh. Quá trình vợ chồng chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do chưa tìm hiểu kỹ trước khi kết hôn dẫn đến tính cách không phù hợp, kết hôn được vài tháng nhưng thường xuyên cãi chửi nhau bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Quá trình sống ly thân mỗi người sống một nơi không ai quan tâm đến ai (chị H sống ở nhà bố mẹ đẻ của chị H tại địa chỉ khu L, phường U còn anh H1 sống cùng mẹ đẻ anh H1 tại địa chỉ khu B, phường U). Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh H1. Về con chung: chị H và anh H1 có 01 con chung là Phạm Trần Mẫn N, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2024. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Chị H không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, vay nợ chung: chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phan Thanh H1 là bị đơn trong vụ án đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc của Toà án không có lý do, không có quan điểm trình bày.
Tại biên bản xác minh ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, bà Lương Thị V (là mẹ đẻ của anh Phan Thanh H1) địa chỉ: tổ A, khu B, phường U, tỉnh Quảng Ninh cung cấp nội dung: anh Phan Thanh H1 và chị Trần Thị Thu H là con trai và con dâu của bà V. Anh H1 và chị H kết hôn năm 2024. Sau khi kết hôn, anh H1 và chị H chung sống với bà V tại địa chỉ tổ A, khu B, phường U. Quá trình chị H và anh H1 chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân cụ thể bà V không nắm được. Bà V chỉ biết là chị H và anh H1 đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Quá trình sống ly thân chị H về nhà bố mẹ đẻ tại địa chỉ tổ A, khu L, phường U sinh sống còn anh H1 ở với bà tại địa chỉ tổ A, khu B, phường U. Nay chị H gửi đơn xin ly hôn với anh H1, bà V đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Cũng theo bà V trình bày, anh H1 đi làm thường xuyên vắng nhà (thường ở nhà vào buổi tối hoặc thứ bảy, chủ nhật). Tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án mà bà V đã nhận thay anh H1 thì bà đều giao tận tay hoặc thông báo qua điện thoại cho anh H1 được biết. Tuy nhiên anh H1 con trai bà có trả lời là do bận làm việc không đến Tòa án làm việc được.
Tại biên bản xác minh ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, ông Phạm Văn H2 (trưởng khu B, phường U), cung cấp nội dung: Anh Phan Thanh H1 là con đẻ của bà Lương Thị V, cư trú cùng bà V tại địa chỉ tổ A, khu B, phường U, tuy nhiên anh H1 không có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ này. Năm 2024 anh H1 kết hôn với chị Trần Thị Thu H và chung sống cùng bà V tại địa chỉ tổ A, khu B, phường U. Quá trình anh H1, chị H chung sống có phát sinh mâu thuẫn còn mâu thuẫn cụ thể ông H2 không nắm được. Ông H2 chỉ biết anh H1 và chị H đã sống ly thân từ khoảng tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Nay, chị H đề nghị ly hôn với anh H1 thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản xác minh ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh, ông Phạm Văn L (là bố đẻ của anh Phan Thanh H1) địa chỉ: tổ D, khu Q, phường U cung cấp nội dung: Ông Phan Văn L1 là bố đẻ của anh Phan Thanh H1, chị Trần Thị Thu H là con dâu của ông. Anh H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ D, khu Q, phường U tuy nhiên anh H1 lại sinh sống cùng mẹ đẻ là bà Lương Thị V tại địa chỉ tổ A, khu B, phường U. Năm 2024, anh H1 kết hôn với chị H, tuy nhiên chung sống một thời gian ngắn đến khoảng tháng 9 năm 2024 thì đã sống ly thân. Mâu thuẫn cụ thể giữa chị H và anh H1 thì ông L1 không nắm được. Nay chị H gửi đơn xin ly hôn anh H1 thì ông L1 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Cũng theo ông L1 trình bày thông báo về việc thụ lý vụ án ly hôn giữa anh H1 và chị H ông L1 đã nhận thay và ông L1 đã thông báo cho anh H1 được biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H. Căn cứ khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, đề nghị giao cháu Phan Trần Mẫn N1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: chị Trần Thị Thu H khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phan Thanh H1 và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án theo quy định. Bị đơn anh Phan Thanh H1 có nơi thường trú tại: tổ D, khu Q, phường U, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ A, khu B, phường U, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh.
Nguyên đơn chị Trần Thị Thu H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phan Thanh H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: chị H và anh H1 kết hôn từ năm 2024 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy, để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tin tưởng nhau cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, chị H và anh H1 phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không phù hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm. Chị H và anh H1 đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay, mỗi người sống một nơi không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị H gửi đơn khởi kiện xin ly hôn anh H1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng: chị H và anh H1 có 01 con chung là Phan Trần Mẫn N1, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2024. Quan điểm của chị H khi ly hôn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị H và anh H1 sống ly thân từ tháng 9 năm 2024 cho đến nay thì cháu N1 còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) và ở với mẹ. Mặt khác, anh H1 vắng mặt, không có quan điểm trình bày về con chung. Như vậy, Hội đồng xét xử xem xét giao con chung Phan Trần Mẫn N1, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2024 cho chị H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[3] Về tài sản chung và khoản vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thu H về việc xin ly hôn anh Phan Thanh H1.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Phan Thanh H1.
1.2. Về con chung: giao con chung Phan Trần Mẫn N1, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2024 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phan Thanh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời, đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2. Về án phí: chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000491 ngày 08 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị Thu H và bị đơn anh Phan Thanh H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Mây |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 03/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị rần Thị Thu H xin ly hôn và giải quyết vấn đề con chung với anh Phan Thanh H1
