Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày 02 - 4 - 2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân.

Ông Lê Văn Lài

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 118/2025/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1973; địa chỉ: khu phố L, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Huỳnh Phú S (tên thường gọi Nguyễn Văn NI), sinh năm 1974; địa chỉ: ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày: Chị và anh Huỳnh Phú S (tên thường gọi là Nguyễn Văn N1) sống chung với nhau vào năm 1996, không đăng ký kết hôn. Khi chung sống anh S nói tên N1, do chị không xem chứng minh nhân dân nên chị không biết tên trong giấy của anh Sang tên gì. Anh chị chung sống với nhau khoảng 01 năm thấy không hợp nên năm 1997 anh S về huyện C sinh sống, còn chị sống ở huyện T. Thời điểm anh S bỏ đi chị đang mang bầu 04 tháng, từ khi anh S bỏ đi chị và anh S không gặp nhau. Sau khi sinh con do thông tin liên lạc còn hạn chế, không biết rõ địa chỉ nhà nên chị không liên lạc với anh S để làm giấy khai sinh cho con. Khi làm giấy khai sinh cho con, do không có chứng minh nhân dân của anh S, chỉ nghe anh nói tên N1 nên chị đọc họ tên cha mẹ để tư pháp xã làm giấy khai sinh cho con, do nhầm lẫn và chị không biết chữ nên không biết tư pháp xã làm sai họ tên cha của cháu L là Nguyễn Văn N1. Sau này con gái chị lớn về bên nội chơi mới biết anh N1 họ tên trong giấy là Huỳnh Phú S. Nay chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xem xét giải quyết tuyên bố chị và anh Huỳnh Phú S không phải là vợ chồng.

Về con chung: chị và anh Huỳnh Phú S có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 02/12/1997. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Phú S – bị đơn trình bày:

Anh và chị Phạm Thị N chung sống với nhau từ năm 1996 không đăng ký kết hôn, đến năm 1997 thì không chung sống với nhau nữa, chị N sống tại huyện T còn anh về huyện C sinh sống. Do tên thường gọi của anh là “Nghé”, anh cũng thường xuyên sử dụng tên này nên khi chung sống với chị N anh nói anh tên “Nghé”, anh không đưa chứng minh nhân dân cho chị N xem nên chị N không biết họ tên trong giấy chứng minh nhân dân của anh là gì. Khi anh bỏ đi chị N đang mang bầu được 04 tháng, từ năm 1997 anh chị không liên lạc với nhau, không gặp nhau. Sau này con chung của anh chị lớn về bên gia đình anh chơi mới biết tên trong giấy của anh là Huỳnh Phú S và tên “Nghé” là tên thường gọi của anh. Nay chị N làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh và chị Phạm Thị N không phải là vợ chồng, anh đồng ý.

Về con chung: anh và chị Phạm Thị N có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 02/12/1997. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không công nhận chị Phạm Thị N và anh Huỳnh Phú S (tên thường gọi: Nguyễn Văn N1) là vợ chồng.

+ Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 02/12/1997. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết

+ Về tài sản, nợ chung: Chị N, anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Phạm Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Phú S (tên thường gọi: Nguyễn Văn N1), cư trú tại: Ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị N, bị đơn anh Huỳnh Phú S vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh S.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh S chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9, Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị N và anh Huỳnh Phú S (tên thường gọi: Nguyễn Văn N1).

[3] Về con chung: chị N và anh S có 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 02/12/1997. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

[6] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

  1. Tuyên bố: Không công nhận chị Phạm Thị N và anh Huỳnh Phú S (tên thường gọi là Nguyễn Văn N1) là vợ chồng.
  2. Về con chung: 01 con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 02/12/1997. Con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006252 ngày 07/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh; Chị N đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Nguyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH về ly hôn

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu ly hôn với ông S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger