Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TRẢNG BÀNG

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/DS-ST.

Ngày: 18-6-2025.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG,

TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Minh Lý.

Ông Trần Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Đào – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025 và theo quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1). Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Quốc H, chức vụ: Phó Giám đốc chi nhánh T kiêm Trưởng phòng G (theo giấy ủy quyền số 4039/2024/QĐ-PC ngày 27/12/2024).

Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Minh C, chức vụ: Trưởng B (theo giấy ủy quyền số 298/GUQ-PGD TB ngày 30/12/2024) – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2

- Bị đơn: chị Biện Thị Ngọc P, sinh năm: 1983. Địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S - ông Nguyễn Minh C trình bày:

Ngày 31/8/2022, chị Biện Thị Ngọc P đã ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập từ tiền lương làm việc tại công ty Winga thị xã T của chị P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân, chi tiết thẻ như sau:

Theo hợp đồng:

  • - Loại thẻ: Thẻ tín dụng nội địa family:
  • - Số thẻ: 970403- 1737
  • - Số tài khoản thẻ: 3959882329
  • - Hạn mức sử dụng: 20.000.000 đồng.
  • - Ngày đến hạn thanh toán: ngày 15 hàng tháng
  • - Lãi suất lúc phát hành thẻ: 31.20%/năm (2.60%/ tháng)(Lãi suất thay đổi theo từng thời kỳ và được S1 niêm yết tại www.S1.com.vn.
  • -Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị P đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 25.900.000đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến 15/9/2024, chị P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 16.289.746 đồng. (Thời hạn thanh toán căn cứ theo Điều 19 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng).

Đến kỳ thanh toán ngày 12/10/2024, chị P không thanh toán nợ. Do chị P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngày 15/12/2024 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng).

Tính đến ngày 18/6/2025, chị P còn nợ các khoản sau: nợ gốc: 19.919.269 đồng, lãi quá hạn: 5.096.380 đồng. Tổng cộng: 25.015.649 (hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn sáu trăm bốn mươi chín) đồng.

Do đó, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc chị Biện Thị Ngọc P phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2025 là: 25.015.649 (hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn

3

sáu trăm bốn mươi chín) đồng. nợ gốc: 19.919.269 đồng, lãi quá hạn: 5.096.380 đồng.

  1. Buộc chị Biện Thị Ngọc P có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 19/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn chị Biện Thị Ngọc P đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, triệu tập tham gia đối chất, triệu tập để tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 90, 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với chị Biện Thị Ngọc P.

Buộc chị Biện Thị Ngọc P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ gốc 19.919.269 đồng, lãi suất theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký.

  1. Về án phí: chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

bị đơn là chị Biện Thị Ngọc P đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Minh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị P, ông C là phù hợp theo quy định tại khoản tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình thông qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S với chị Biện Thị Ngọc P là tranh chấp Hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh ngày 14/5/2025, bị đơn chị Biện Thị Ngọc P có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

[3] Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Ngày 31/8/2022, chị Biện Thị Ngọc P đã ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập từ tiền lương làm việc tại công ty Winga thị xã T của chị P, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với mục đích tiêu dùng cá nhân, chi tiết thẻ như sau:

Theo hợp đồng:

  • - Loại thẻ: Thẻ tín dụng nội địa family:
  • - Số thẻ: 970403- 1737
  • - Số tài khoản thẻ: 3959882329
  • - Hạn mức sử dụng: 20.000.000 đồng.
  • - Ngày đến hạn thanh toán: ngày 15 hàng tháng.
  • - Lãi suất lúc phát hành thẻ: 31.20%/năm (2.60%/ tháng)(Lãi suất thay đổi theo từng thời kỳ và được S1 niêm yết tại www.S1.com.vn.
  • -Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

5

nước ngoài đối với khách hàng, hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định, tính đến ngày 18/6/2025, chị P còn nợ Ngân hàng số tiền là: 25.015.649 (hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn sáu trăm bốn mươi chín) đồng. nợ gốc: 19.919.269 đồng, lãi quá hạn: 5.096.380 đồng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi vốn vay theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 31/8/2022, việc không thanh toán đầy đủ số tiền nợ còn thiếu đúng thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn, vi phạm điều khoản đã ký kết trong hợp đồng. Căn cứ vào hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên cũng như quy định tại Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ vào quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 18/6/2025 là: 25.015.649 (hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn sáu trăm bốn mươi chín) đồng. nợ gốc: 19.919.269 đồng, lãi quá hạn: 5.096.380 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật để chấp nhận toàn bộ yêu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S được chấp nhận nên chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Án phí được tính như sau:

25.015.649 đồng x 5% = 1.250.782 đồng làm tròn 1.251.000đồng.

Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Hội đồng xét xử

xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

6

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Các khoản 3 và 4 Điều 8, Điều 10, điểm a, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với chị Biện Thị Ngọc P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc chị Biện Thị Ngọc P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 18/6/2025 là: 25.015.649 (hai mươi lăm triệu không trăm mười lăm nghìn sáu trăm bốn mươi chín) đồng. nợ gốc: 19.919.269 đồng, lãi quá hạn: 5.096.380 đồng.

Kể từ ngày 19/6/2025, chị Biện Thị Ngọc P còn phải chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất mà chị Biện Thị Ngọc P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng TMCP S.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Biện Thị Ngọc P phải chịu 1.251.000 (một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn) đồng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 521.000 (năm trăm hai mươi mốt nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012296 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
  2. Về quyền kháng cáo: đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND TX. Trảng Bàng;
  • - Chi cục THADS TX. Trảng Bàng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Án văn, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ VÀ ĐÓNG DẤU)

Phạm Văn Hảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/DS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 44/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger