|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2025/DS-ST. Ngày: 06 - 6 - 2025. V/v Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Hai và ông Nguyễn Chí Công.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Dang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST-DS, ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-DS, ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ - sinh năm: 1966.
Địa chỉ: C, KDC K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Lê Ngọc P - sinh năm: 1997. Địa chỉ: D, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Đ (Văn bản ủy quyền ngày 03/3/2025).
- Bị đơn:Ông Trần Minh T - sinh năm: 1971.
Địa chỉ: B, Khóm A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt tại phiên tòa; bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ ủy quyền cho anh Lê Ngọc P trình bày:
Ngày 20/11/2020, bà Đ cùng với ông Trần Minh T cùng thỏa thuận và ký kết Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc viết tay, không có công chứng chứng thực với nội dung như sau: Ông T có bán cho bà Đ 01 cái nền đất thổ (không biết số thửa, số tờ bản đồ), diện tích 90m², tại tuyến dân cư nối dài thuộc Khóm B, thị trấn L (khu A N), thuộc quyền sở hữu của ông T nhưng chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền là 600.000.000 đồng; để đảm bảo cho việc chuyển nhượng 01 cái nền đất thổ nêu trên, ông T có nhận của bà Đ số tiền cọc là 200.000.000 đồng; số tiền còn lại sau khi ông T hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà Đ sẽ thanh toán cho ông T số tiền còn lại là 400.000.000 đồng. Hai bên cam kết nếu bên mua tự ý làm sai sẽ mất cọc; còn nếu bên bán không thực hiện đúng Hợp đồng sẽ phải bồi thường gấp 05 lần số tiền đã nhận cọc.
* Quá trình thực hiện Hợp đồng đặt cọc:
- Do quen biết, tin tưởng nhau nên bà Đ không đi xem nền, không nhận đất, không biết ai đứng tên quyền sử dụng cái nền mà ông T thỏa thuận bán cho bà Đ, không biết số thửa đất, tờ bản đồ số mấy, bà Đ cũng không biết hiện ai đang quản lý sử dụng phần đất này. Giữa bà Đ với ông T chỉ thỏa thuận mua bán đất bằng “Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc” viết tay, không có công chứng, chứng thực, chưa ra công chứng thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T cũng không có giao đất cho bà Đ quản lý, sử dụng.
- Sau khi nhận tiền cọc đến nay thì ông T không thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đ, bà Đ cũng đã nhiều lần yêu cầu ông T thực hiện thủ tục sang tên cho bà Đ nhưng ông T cố tình né tránh.
Nay bà Đ yêu cầu ông Trần Minh T phải trả cho bà Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 200 triệu đồng và tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng là 200 triệu đồng. Tổng cộng là 400.000.000 đồng. Bà Đ không tranh chấp yêu cầu ông T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đ; không yêu cầu tính lãi, cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại hợp đồng; Bà Đ chỉ yêu cầu được nhận lại tiền cọc và tiền phạt cọc. Ngoài ra bà Đ không yêu cầu gì khác và cũng không có yêu cầu ai khác liên đới trách nhiệm cùng với ông T trả lại tiền đặt cọc và tiền phạt cọc cho bà Đ.
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, bị đơn là ông Trần Minh T không đến Tòa án tham gia hòa giải. Tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/5/2025, ông T có ý kiến trình bày:
Ông T thừa nhận vào ngày 20/11/2020, giữa ông T với bà Nguyễn Thị Đ có thỏa thuận và ký kết Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc viết tay theo như nội dung Hợp đồng thể hiện, không có công chứng chứng thực; ông T thừa nhận chữ ký tên, chữ viết họ và tên trong Hợp đồng là của ông T. Khi lập Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc với bà Đ thì ông T không biết số thửa, số tờ bản đồ do đất của ông T chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa chuyển mục đích đất thổ nên ông T không thực hiện thủ tục sang tên chuyển quyền sử dụng đất cho bà Đ; ông T chưa giao đất cho bà Đ.
Sau khi ông T được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T đã chuyển nhượng phần đất này cho người khác.
Ông T thừa nhận thực tế chỉ nhận của bà Đ số tiền cọc là 150 triệu đồng chứ không phải 200 triệu đồng theo như Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc thể hiện. Tuy nhiên, ông T cũng đồng ý số tiền ông T đã nhận cọc của bà Đ là 200 triệu đồng.
Nay, ông T chấp nhận theo yêu cầu của bà Đ. Ông T đồng ý trả lại cho bà Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 200 triệu đồng. Ông T không đồng ý trả số tiền phạt cọc là 200 triệu đồng. Ngoài ra ông T không có yêu cầu phản tố và cũng không có ý kiến trình bày, yêu cầu gì khác và có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện cho đến khi xét xử sơ thẩm xong.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các bên đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đại diện Viện kiểm sát thống nhất với trình tự thủ tục tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn là ông Trần Minh T.
- Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 328 của Bộ luật dân sự, tuyên xử:
- + Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ông Trần Minh T trả cho bà Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 200 triệu đồng.
- + Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ông Trần Minh T trả cho bà Đ số tiền phạt cọc là 200 triệu đồng.
- + Buộc bị đơn ông Trần Minh T phải trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng.
- + Tại phiên tòa, anh Lê Ngọc P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ không tranh chấp yêu cầu ông T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đ, không yêu cầu tính lãi và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại hợp đồng; nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng; Hội đồng xét xử xét thấy:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Minh T trả lại số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng và số tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng 200.000.000 đồng. Tổng cộng là: 400.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà Đ không tranh chấp về đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chỉ yêu cầu được nhận lại tiền cọc và tiền phạt cọc. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
1.3. Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông Trần Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu bị đơn ông Trần Minh T trả cho bà Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng và số tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng. Tổng cộng là: 400.000.000 đồng; bà Đ không tranh chấp yêu cầu ông T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đ; không yêu cầu tính lãi, cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại hợp đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1. Về Hợp đồng đặt cọc: Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thừa nhận chữ ký tên, chữ viết họ và tên trong Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc (viết tay, không có công chứng, chứng thực) là của bà Đ và ông T; bà Đ và ông T cùng ký tên, ghi họ tên vào ngày 20/11/2020; nên xác định đây là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2.2. Về số tiền đặt cọc: Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Đ xác định bà Đ đã đặt cọc cho ông T nhận số tiền là 200.000.000 đồng. Bị đơn ông T xác định chỉ có nhận của bà Đ số tiền cọc là 150.000.000 đồng, nhưng trong Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc lại ghi ông T có nhận cọc của bà Đ số tiền là 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T cũng thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn bà Đ nên xác định đây là các tình tiết thuộc trường hợp chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/5/2024, ông T đồng ý trả lại cho bà Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 200.000.000 đồng, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận tự nguyện này của ông T.
2.3. Về số tiền phạt cọc: Bị đơn bà Đ có yêu cầu ông T phải trả cho bà Đ số tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng do ông T vi phạm hợp đồng. Bị đơn ông T không đồng ý trả số tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng theo yêu cầu của bà Đ. Hội đồng xét xử xét thấy:
- Tại khoản 1, 2 Điều 328 của Bộ luật dân sự quy định về Đặt cọc như sau:
“1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.
- Căn cứ các tài liệu nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là tờ giấy viết tay Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc lập ngày 20/11/2020, nguyên đơn cho rằng đây là Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc giữa nguyên đơn với bị đơn, cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định tại thời điểm lập Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc thì phần đất bà Đ và ông T giao dịch là chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa có số thửa, số tờ bản đồ, chưa chuyển mục đích đất thổ...
- Căn cứ khoản 1 Điều 168 của Luật đất đai năm 2013 quy định về Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất.
“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận...”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 188 của Luật đất đai năm 2013 quy định về Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đấtkhi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này”.
- Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 168 và Điều 188 của Luật đất đai năm 2013 thì tại thời điểm bà Đ và ông T lập Hợp đồng chuyển nhượng đất và đặt cọc thì phần đất của ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không đủ điều kiện được thực hiện giao dịch chuyển nhượng, chuyển đổi... đất theo quy định nhưng bà Đ và ông T vẫn tiến hành giao dịch chuyển nhượng đất với nhau là lỗi của bà Đ và ông T. Mặt khác, việc chuyển nhượng đất này chỉ làm giấy tay, không có công chứng, chứng thực và cũng không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền dẫn đến việc chuyển nhượng vô hiệu do vi phạm điều cấm.
- Tại khoản 1 Điều 408 của Bộ luật dân sự quy định về Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được như sau:
“1. Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.”.
- Tại điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013 quy định:
“3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này.”.
- Đồng thời, hiện nay khi ông T được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T cũng không chuyển nhượng đất cho bà Đ mà chuyển nhượng cho người khác.
- Mặt khác, từ việc ông T chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên hình thức hợp đồng là giấy viết tay, không được công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền, vi phạm về mặt hình thức theo quy định tại Điều 129 và Điều 502 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 của Luật đất đai năm 2013. Do đó, căn cứ các quy định trên, Hợp đồng mua bán đất và nhận cọc (giấy tay) ngày 20/11/2020 giữa bà Đ và ông T được xác lập là vô hiệu.
2.4. Về xử lý hợp đồng vô hiệu:
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015 quy định về hậu quả hợp đồng vô hiệu:
“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”.
Trên cơ sở xác định hợp đồng chuyển nhượng đất lập ngày 20/11/2020 giữa bà Đ với ông T là vô hiệu nên không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên.
2.5. Về lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu:
Hội đồng xét xử xét thấy: Khi ký kết Hợp đồng, các bên bà Đ và ông T đều có lỗi vì đã không tuân thủ hình thức của hợp đồng, hợp đồng không công chứng, chứng thực. Phần đất mà các đương sự thỏa thuận tại thời điểm chuyển nhượng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cả nguyên đơn bà Đ và và bị đơn ông T đều biết tại thời điểm chuyển nhượng; phần đất này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối tượng thực hiện hợp đồng là không có). Do đó, trong trường hợp này cả bà Đ và ông T cùng có lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng vô hiệu.
2.6. Về xác định thiệt hại do hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu: Tại phiên tòa, anh Lê Ngọc P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ không tranh chấp yêu cầu ông T chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đ, không yêu cầu tính lãi và cũng không yêu cầu bồi thường thiệt hại hợp đồng; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu của bà Đ yêu cầu ông T phải trả số tiền phạt cọc là 200.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.
Do đó, buộc ông T phải trả cho bà Đ số tiền đặt cọc là 200 triệu đồng.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Đ phải chịu án phí đối với yêu cầu phạt cọc không được chấp nhận.
- Ông T phải chịu án phí đối với yêu cầu trả lại tiền cọc của bà Đ được chấp nhận theo quy định của pháp luật.
[4]. Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 228, Điều 264, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào các Điều 129, Điều 131, Điều 328, Điều 357, Điều 408, Điều 468 và Điều 502 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào các Điều 167, Điều 168 và Điều 188 của Luật đất đai năm 2013.
- Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ.
- - Bác phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ đối với yêu cầu ông Trần Minh T trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền phạt cọc do vi phạm hợp đồng là 200.000.000 đồng.
- - Buộc ông Trần Minh T trả cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền đặt cọc là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng.
- - Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thị Đ mà ông Trần Minh T chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng ông T còn phải trả lãi suất phát sinh do chậm trả tiền đối với số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Nguyễn Thị Đ nộp 10.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 10.000.000 (Mười triệu) đồng theo Biên lai thu số: 0005808, ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- - Ông Trần Minh T nộp 10.000.000 (Mười triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện Lai Vung; - Chi cục THADS huyện Lai Vung; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Danh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Văn Hai - Nguyễn Chí Công |
Trần Quốc Danh |
Bản án số 44/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 44/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm
