Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 44/2025/DS-ST

Ngày 03/6/2025

V/v: “ Tranh chấp

đòi quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên.

Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hoài Mơ

Bà Nguyễn Thị Yến.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Ninh - Kiểm sát viên

Ngày 03/6/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 109/2024/TLST-DS, ngày 07/10/2024 về việc “ Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QÐST- DS ngày 04/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1949 (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Chị Lý Thị B, sinh năm 1989(Vắng mặt)

Cùng cư trú: Thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Luật sư Dương Minh K, V1, đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang( Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Vũ Thị V, sinh năm 1951( Có mặt).

Đại diện theo ủy quyền của bà V: Ông Nguyễn Văn Đ

Cùng cư trú: Thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và phiên tòa, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị V thống nhất trình bày: Vợ chồng ông Đ, bà V là chủ sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ 14, diện tích 497,1m2 địa chỉ tại thôn L, xã H,huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2023 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ, ngày 06/3/2024 thay đổi nội dung pháp lý mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V.

Nguồn gốc thửa đất do ông Đ, bà V khai hoang và sử dụng từ năm 1973. Khoảng năm 1986 thì được Nhà nước giao sử dụng, ông Đ, bà V xây 01 nhà cấp 4 trên đất để ở, sau đó ông Đ, bà V sử dụng đến năm 2023 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2023 như trên. Trong giai đoạn trước khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2023 thì Nhà nước không thu thuế sử dụng đất. Đến năm 2023 thì ông Đ, bà V trực tiếp đăng ký và kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mọi chi phí về thuế chuyển mục đích sử dụng đất, lệ phí trước bạ đều do ông Đ trực tiếp làm và đóng vào ngân sách Nhà nước.Khi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ 14, diện tích 497,1m2 thì anh H, chị B đều biết nhưng không ai có ý kiến gì.

Năm 2009 do vợ chồng anh H, chị B ở riêng nhưng không có nhà ở nên ông Đ, bà V cho ở tạm ngôi nhà cấp 4 ông Đ bà V xây năm 1986 tại thửa đất trên. Đến năm 2015 thì anh H, chị B xây nhà 02 tầng gắn liền đất để anh H, chị B sử dụng. Do vậy, sau khi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 165, ông Đ bà V có thỏa thuận miệng nếu anh H chị B muốn sử dụng thửa đất số 165 thì đổi cho ông Đ thửa đất số 134, tờ bản đồ 14 liền kề thửa số 165, diện tích 132,7m2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn Q, ngày 21/8/2023 thay đổi tên chủ sử dụng là anh H, chị B. Tuy nhiên sau đó vợ chồng anh H, chị B quản lý, sử dụng thửa đất nhưng anh H, chị B không đổi cho ông Đ, bà V quản lý sử dụng thửa đất số 134 . Do vậy ông Đ, bà V đã yêu cầu anh H, chị B trả lại ông Đ, bà V quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 165 nhưng anh H, chị B không trả mà tiếp tục sử dụng đến nay. Nay ông Đ, bà V yêu cầu anh H, chị B trả lại ông Đ, bà V quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 165 trên.Trường hợp anh H, chị B muốn sử dụng thửa 165 thì phải giao ông Đ bà V quyền sử dụng thửa số 134 liền kề.

Về tài sản gắn liền thửa số 165: Ông Đ, bà V xác định chỉ sở hữu 02 cây nhãn trồng năm 2008 và 01 cây hồng trồng năm 1997. Các tài sản khác đều do anh H, chị B tạo dựng. Ông Đ, bà V đồng ý trả anh H, chị B bằng tiền theo định giá nhà nước các tài sản trên.

Về chi phí tố tụng: Ông Đ, bà V yêu cầu anh H, chị B phải chịu chi phí đo đạc thẩm định, định giá tài sản theo quy định pháp luật.

Luật sư K thống nhất trình bày như ý kiến của ông Đ, bà V.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn H, chị Lý Thị B vắng mặt tại phiên tòa, tại biên bản ghi lời khai trình bày: Năm 2009 vợ chồng ông Đ, bà V đã hứa bằng miệng tặng cho anh H, chị B toàn bộ quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 165, việc hứa tặng cho trên bằng miệng, ngoài ra không có văn bản gì. Đến năm 2015 thì anh H, chị B xây nhà 02 tầng gắn liền thửa đất số 165. Năm 2023 anh H, chị B mua lại thửa 134 liền kề của anh Nguyễn Văn Q và làm thủ tục thay đổi sang tên anh H, chị B. Nay ông Đ yêu cầu anh H, chị B trả lại quyền sử dụng thửa đất số 165 thì anh H, chị B đề nghị hòa giải với ông Đ, bà V.

Ngày 28/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, Ủy ban nhân dân xã H, huyện L và Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng dân sự huyện L đã tiến hành thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 165, địa chỉ tại thôn L, xã H; kết quả đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản như sau: Hiện trạng diện tích thực tế thửa đất số 165, tờ bản đồ 14, diện tích 497,1m2. Tài sản gắn liền đất gồm:

  • 01 nhà 02 tầng cấp 3= 539.158.000 đồng, 01 nhà cấp 4 = 34.372.000 đồng và 02 mái vẩy = 6.123.000 đồng, 02 tường rào gạch = 10.256.000 đồng, 02 tường rào sắt = 9.444.000 đồng, 02 trụ cổng xây gạch chỉ =1.156.000 đồng, 01 sân bê tông diện tích 60m2= 5.040.000 đồng, 02 cây nhãn trồng năm 2008 = 3.580.000 đồng, 01 cây hồng trồng năm 1997 = 938.000 đồng, 01 giếng nước sâu 06m = 3.690.000 đồng, 01 nhà chăn nuôi xây năm 1990 hết hạn sử dụng, 01 cánh cổng sắt = 6.622.000 đồng.

Kết quả định giá: Giá đất ở = 10.000.000 đồng/m2; giá đất cây lâu năm = 2.000.000 đồng/m2.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, cũng như việc chấp hành luật pháp của những người tham gia tố tụng, việc tiến hành thu thập chứng cứ và kiểm tra các chứng cứ đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật.

4.1/ Đề nghị áp dụng Điều 01 và 02 Luật đất đai năm 1993; Điều 236 Luật đất đai năm 2024; các điều 26, 35,147, 227, 228, các điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 288 Bộ luật dân sự; các Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 và 26 Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ : Buộc anh H, chị B phải có nghĩa vụ liên đới trả lại ông Đ, bà V quyền sử dụng thửa đất số 165, diện tích 497,1m2, địa chỉ tại thôn L, xã H, huyện L. Ông Đ, bà V được quyền sử dụng thửa đất số 165 và sở hữu các tài sản gắn liền như biên bản thẩm định, định giá đã nêu nhưng phải trả anh H, chị B trị giá các tài sản tổng cộng 615.861.000 đồng

Về chi phí tố tụng: Anh H, chị B phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản. Do ông Đ đã tạm ứng chi phí thẩm định, định giá nên H, chị B phải liên đới có nghĩa vụ trả ông Đ chi phí trên.

Án phí: Anh H, chị B phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng và án phí có giá ngạch đối với số tiền được nhận 615.861.000 đồng .Ông Đ, bà V là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định :

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án xét xử anh H, chị B vắng mặt lần 2 nhưng đã được tống đạt các văn bản tố tụng đúng trình tự, thủ tục là đúng quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Căn cứ lời trình bày của đương sự và tài liệu Tòa án xác minh tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất số 165, tờ bản đồ 14,diện tích 497,1m2 địa chỉ tại thôn L, xã H,huyện L, tỉnh Bắc Giang do vợ chồng ông Đ, bà V khai hoang và sử dụng từ trước năm 1986. Sau đó ông Đ bà V sử dụng đến năm 2023 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đ, bà V. Ông Đ, bà V là người thực hiện việc kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, thanh toán các nghĩa vụ tài chính như thuế chuyển mục đích sử dụng đất, lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.

Như vậy quyền sử dụng đất của ông Đ, bà V được xác định đúng theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật đất đai năm 1993, Điều 5 luật Đất đai 2013.

Mặc dù anh H, chị B trình bày: Năm 2009 vợ chồng ông Đ, bà V hứa bằng miệng tặng cho anh H, chị B toàn bộ quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 165, đồng thời năm 2015 thì anh H, chị B xây nhà 02 tầng gắn liền đất; ngoài ra anh H, chị B không có căn cứ nào khác. Tuy nhiên ông Đ, bà V không đồng ý đã hứa tặng cho anh H, chị Bình quyền sử dụng đất trên, việc anh H, chị B xây nhà 02 tầng gắn liền đất do anh H, chị B không có nhà ở nên ông Đ cho ở nhờ. Đồng thời ngày 04/12/2023 thì thửa đất mới được cấp Giấy chứng nhận mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ, ngày 06/3/2024 được thay đổi nội dung pháp lý mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V.

Như vậy, Nhà nước công nhận ông Đ, bà V là người đang sử dụng đất ổn định,hợp pháp, có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ 14 theo quy định tại Điều 166 Luật đất đai 2013. Theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai 2013 thì việc đăng ký quyền sử dụng đất trên là đúng quy định pháp luật, để quản lý quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Do vậy Hội đồng xét xử nhận định: Quyền sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ 14, diện tích 497,1m2 địa chỉ tại thôn L, xã H, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2023 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ, ngày 06/3/2024 được thay đổi nội dung pháp lý mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của ông Đ, bà V.

Do vậy yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ cần chấp nhận; Cần buộc anh H, chị B trả ông Đ, bà V quyền sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ 14, diện tích 497,1m2 địa chỉ tại thôn L, xã H, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2023 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ, ngày 06/3/2024 được thay đổi nội dung pháp lý mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V.

Về các tài sản gắn liền đất gồm 01 nhà 02 tầng cấp 3, 01 nhà cấp 4, 02 mái vẩy, 02 tường rào gạch,02 tường rào sắt, 02 trụ cổng xây gạch chỉ, 01 sân bê tông diện tích 60m2, 02 cây nhãn trồng năm 2008,01 cây hồng trồng năm 1997,01 giếng nước sâu 06m,01 nhà chăn nuôi xây năm 1990 hết hạn sử dụng, 01 cánh cổng: Ông Đ, bà V xác định chỉ sở hữu 02 cây nhãn trồng năm 2008 và 01 cây hồng trồng năm 1997, các tài sản khác đều do anh H, chị B tạo dựng. Đồng thời ông Đ, bà V đồng ý trả anh H, chị B bằng tiền theo định giá nhà nước các tài sản trên. Do vậy cần giao ông Đ, bà V sở hữu các tài sản gắn liền đất như biên bản thẩm định, định giá đã nêu nhưng phải trả anh H, chị B trị giá các tài sản tổng cộng 615.861.000 đồng

[3]. Về chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản : Do ông Đ được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên anh H, chị B phải chịu chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản. Xác nhận ông Đ đã tạm ứng chi phí tố tụng trên nên anh H, chị B phải trả ông Đ tiền tạm ứng chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản.

[4]. Án phí: Anh H, chị B phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng và án phí có giá ngạch đối với số tiền được nhận 615.861.000 đồng; ông Đ, bà V là người cao tuổi cần miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 1 và Điều 2 Luật đất đai năm 1993, Điều 95, Điều 166, Luật đất đai 2013; Điều 236 Luật đất đai 2024; Điều 288 Bộ luật dân sự, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 và 37 Luật Hôn nhân và gia đình; xử :

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Buộc anh Nguyễn Văn H, chị Lý Thị B phải liên đới có nghĩa vụ trả ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V quyền sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ 14, diện tích 497,1m2 địa chỉ tại thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2023 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ, ngày 06/3/2024 được thay đổi nội dung pháp lý mang tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V( Vị trí, gianh giới, diện tích, sơ đồ thửa đất như Sơ đồ đo đạc, trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 28/02/2025 kèm theo).

Ông Nguyễn Văn Đ, bà Vũ Thị V được sở hữu các tài sản gắn liền thửa đất số 165, tờ bản đồ 14 gồm: 01 nhà 02 tầng cấp 3, 01 nhà cấp 4 ,02 mái vẩy, 02 tường rào gạch, 02 tường rào sắt, 02 trụ cổng xây gạch chỉ, 01 sân bê tông diện tích 60m2, 02 cây nhãn trồng năm 2008, 01 cây hồng trồng năm 1997, 01 giếng nước, 01 nhà chăn nuôi xây năm 1990 hết hạn sử dụng, 01 cánh cổng sắt nhưng ông Đ, bà V phải liên đới có nghĩa vụ trả anh H, chị B trị giá các tài sản trên, tổng cộng là 615.861.000 đồng .

2.Chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự: Anh H, chị B phải liên đới có nghĩa vụ chịu chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 4.940.000 đồng. Do ông Đ đã tạm ứng chi phí thẩm dịnh, định giá nên anh H, chị B phải liên đới có nghĩa vụ trả ông Đ tiền chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ, định giá là 4.940.000 đồng

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án dân sự cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, người phải thi hành án dân sự hàng tháng còn phải chịu lãi suất của số tiền gốc còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Trường hợp bản án được thi hành theo tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3.Án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Anh H, chị B phải liên đới có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng và án phí có giá ngạch 28.634.440 đồng.

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với ông Đ, bà V.

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. .

Nơi nhận

  • -TAND T, BG
  • - VKSND H. Lục Nam
  • - THADS H. Lục Nam,
  • - Đương sự,
  • - UBND H. Lục nam
  • - UBND xã Huyền Sơn
  • - Lưu

T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ tọa

Nguyễn Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/DS-ST ngày 03/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 44/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dân sự tranh chấp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger