Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 44/2025/DS-PT

Ngày 26 tháng 02 năm 2025

V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính

Bà Nguyễn Thị Minh Thu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2024/TLPT-DS ngày 12/12/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2024/DSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 76/2025/QĐPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

- Ông Vũ Văn X, sinh năm 1979; Địa chỉ: P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

- Ông Trần Tuấn L, sinh năm 1999; Địa chỉ: Khu B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2001; Địa chỉ: Khu T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Bị đơn: Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959. Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Cùng có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

2. Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Đỗ Thị H1:

- Bà Hoàng Thúy H2, sinh năm 1993. Vắng mặt.

- Bà Cao Thị Ngọc M, sinh năm 2002. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số A, đường N, khu C, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Người được bị đơn đề nghị Toà án triệu tập đến làm việc: Bà Nguyễn Thị H3. Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

*Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông và bà N là anh em ruột với nhau, bà N là em dâu ông Đ. Do có nhu cầu sử dụng đến tiền nên thông qua bà N, ông Đ, bà H có hỏi vay ông 600 triệu đồng. Ngày 21/6/2022 ông có cho ông Đ, bà H là 600 triệu đồng, khi vay tiền ông P viết giấy vay tiền, ghi rõ người vay, số tiền vay, hạn vay, hạn trả, việc giao nhận tiền giữa các bên với nhau. Việc vay tiền, giao nhận tiền giữa các bên được thực hiện tại nhà ông Đ, có sự tham gia của ông Đ, bà H và chứng kiến của bà N và bà H1. Ngoài ra ông còn yêu cầu vợ chồng ông Đ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) cho ông giữ. Hai bên thỏa thuận lãi suất theo lãi suất ngân hàng.

Ông Đ trả ông được 02 tháng lãi, mỗi tháng 06 triệu đồng trên tổng số tiền vay 600 triệu, khi trả lãi không viết giấy tờ. Sau đó ông Đ, bà H không trả gốc và lãi lần nào. Ông xác nhận bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất số 550, tờ bản đồ số 14 tại thôn Y, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh mang tên ông Đ, bà H (viết tắt là thửa đất số 550) là do ông cầm.

Việc ông Đ, bà H đưa giấy chứng nhận QSDĐ cho ông, ngoài nội dung thể hiện trong giấy vay tiền thì giữa ông và vợ chồng ông Đ không có thỏa thuận nào khác, không ký kết hợp đồng thế chấp độc lập.

Khoản tiền 600 triệu là tiền của cá nhân ông, không liên quan đến bà Đỗ Thị H1. Ông và bà H1 chỉ chung sống với nhau chứ không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ trước của ông là bà Vũ Thị K, bà K đã chết năm 2014. Khoản vay 600 triệu này cũng không liên quan đến các con ông và các con ông Đ, bà H, ông đề nghị Toà án không đưa những người này vào tham gia tố tụng.

Do ông Đ, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông khởi kiện đề nghị Toà án: Buộc ông Đ, bà H phải trả cho ông số tiền gốc là 600 triệu đồng và lãi suất theo Ngân hàng N1 là 9%/năm tính từ ngày 22/8/2022 đến ngày 30/8/2024 làm tròn là 24 tháng = 108.000.000đ. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.

Ông Đ, bà H đã thế chấp thửa đất số 550 để đảm bảo khoản vay 600 triệu nên khi nào ông Đ, bà H trả hết nợ gốc và lãi cho ông thì ông sẽ trả lại bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ.

*Bị đơn ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông bà thừa nhận toàn bộ nội dung trong giấy vay tiền đề ngày 21/6/2022 là do ông Đ viết, tuy nhiên các nội dung ghi trong giấy là do ông P đọc cho ông Đ viết. Tại thời điểm viết giấy ông Đ không được minh mẫn do đã uống rượu say cùng với vợ chồng ông P và bà N trước đó.

Ông Đ, bà H xác nhận chữ ký và chữ viết ở mục người vay của giấy vay tiền này đúng là chữ ký và chữ viết của ông bà. Nhưng ông Đ là người viết và ký nhận vào giấy vay tiền trước, sau đó mới mang giấy vay tiền này về nhà ông Đ để bà H ký. Lúc đầu bà H không đồng ý vay tiền và ký giấy, nhưng bị ông Đ mắng, thì bà H mới ký. Sau khi bà H ký giấy vay tiền, ông P chỉ đưa cho ông bà vay 100 triệu, số tiền 500 triệu còn lại ông bà không trực tiếp nhận của ông P mà ông P đưa cho bà N, để bà N mang đi trả nợ hộ bà H khoản vay 500 triệu của nhà H3 (H4) ở B. (Giấy tờ vay nợ giữa bà N và nhà H3 (H4) ở B ông bà không có bản gốc mà chỉ có bản phô tô mà ông bà đã giao nộp cho Tòa án).

Ban đầu ông bà đề nghị Toà án làm rõ việc bà N đã cầm 500 triệu đi trả nợ giúp cho bà H ở khoản vay 500 triệu nhà H3 (H4 hay không). Nếu khoản nợ với nhà H3 (H4) được bà N thừa nhận đã trả nợ giúp ông bà thì ông bà thừa nhận và đồng ý trả nợ cho ông P 600 triệu đồng. Tuy nhiên, ông bà đề nghị được trả nợ dần đối với khoản nợ gốc 600 triệu đồng và trả nợ trong nhiều năm, trả theo khả năng. Đối với khoản tiền lãi của số tiền 600 triệu ông bà xin được miễn giảm lãi.

Sau đó, ông Đ và bà H thay đổi lời khai với nội dung: Trước đó, bà H và bà N đánh cờ bạc chịu với nhau nên bà H nợ bà N là 500 triệu. Tuy nhiên, bà N không yêu cầu bà H viết giấy nhận nợ 500 triệu với bà N, mà viết giấy vay nợ của nhà H3 (H4) đồng thời bà N mang giấy chứng nhận QSDĐ của ông bà đi thế chấp cho nhà H3 (H4). Sau đó lại giới thiệu vay 600 triệu của ông P. Ông bà chỉ nhận 100 triệu của ông P, 500 triệu đồng còn lại ông P đưa cho bà N, ông bà chỉ được bà N thừa nhận qua điện thoại là bà N mang 500 triệu đi trả nợ khoản vay 500 triệu nhà H3 (H4), nhưng bà N không chịu ghi nhận bằng giấy tờ cho vợ chồng ông về nội dung này, ông bà có yêu cầu bà N là đã trả nợ nhà H3 (H4) rồi thì trả lại cho vợ chồng ông giấy tờ vay nợ gốc, tránh trường hợp sau này nhà H3 (H4) lại đòi nợ ông bà lần nữa, nhưng bà N chỉ trả lời là giấy tờ vay nợ gốc đã xé đi không còn. Bà N là người đã đưa bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ của ông bà cho ông P giữ.

Ông bà chỉ đồng ý trả ông P số tiền gốc là 100 triệu và tiền lãi phát sinh từ số tiền 100 triệu, ông bà đồng ý tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng N1 như ông P trình bày nhưng trừ đi số tiền lãi trả đã 6 tháng = 36 triệu. Còn 500 triệu ông bà không trực tiếp nhận của ông P nên vợ chồng ông không có trách nhiệm trả ông P. Đây là khoản nợ nợ riêng của ông Đ, không liên quan đến bà H1, các con ông P và các con ông bà.

Ông Đ, bà H trình bày sẽ làm đơn tố cáo ra cơ quan Công an về hành vi đánh cờ bạc của bà N, bà H và hành vi bà N giữ sổ đỏ của ông bà, nhưng chỉ có lời trình bày chứ không có bất cứ giấy tờ, tài liệu nộp cho Toà án.

Ông Đ, bà H yêu cầu ông P phải trả lại 01 giấy chứng nhận QSDĐ của thửa đất số 550 mang tên ông Đ và bà H.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là:

Bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà là em ruột ông P và là em dâu ông Đ. Khoảng năm 2022 hoặc 2023, vợ chồng ông Đ bảo bà đi cùng lên nhà ông P để vay tiền, thực chất thì ông Đ đã hỏi vay ông P rồi. Ông Đ viết giấy vay nợ xong mới nhận tiền. Ông Đ, bà H đều ký trước mặt mọi người. Ông P trực tiếp giao số tiền 600 triệu đồng cho ông Đ, bà H có bà và bà H1 chứng kiến. Sau khi nhận 600 triệu thì ông Đ, bà H đưa giấy chứng nhận QSDĐ cho ông P, bà không liên quan đến giấy chứng nhận QSDĐ này.

Bà không đồng ý với yêu cầu của bị đơn về việc buộc bà phải có trách nhiệm với số tiền vay 500 triệu của ông P. Vì bà không liên quan đến việc vay nợ giữa ông P và ông Đ, bà H.

Bà Đỗ Thị H1 và người đại diện theo uỷ quyền của bà H1 trình bày: Bà H1 và ông P sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Do có mối quan hệ trong gia đình, vợ chồng ông Đ, bà H cần tiền để kinh doanh nên ngày 21/6/2022, ông Đ, bà H đã vay của ông P 600.000.0000đ. Thời gian vay 06 tháng tính từ ngày 21/6/2022 đến ngày 21/12/2022, lãi suất theo ngân hàng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Đ, bà H giao cho ông P 01 giấy chứng nhận QSDĐ mang tên cho ông Đ và bà H.

Ông P khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà H phải trả số tiền gốc là 600.000.000₫ và tiền lãi kèm theo. Bà xác định đây là tiền riêng của ông P nên bà xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc với Toà án.

Với nội dung trên Tòa án nhân dân huyện Gia Bình đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 93, 147, 186, 228, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 274, 275, 276, 429, 463, 464, 465, 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xử:

  1. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn P:
  2. Buộc ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H phải trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền gốc vay là 600.000.000₫ và tiền lãi của số tiền gốc vay tính đến ngày 30/8/2024 là 108.000.000đ. Tổng số tiền gốc và lãi ông Đ, bà H có nghĩa vụ trả ông P là 708.000.000₫ (Bảy trăm linh tám triệu đồng chẵn) - Theo giấy vay tiền giữa hai bên lập ngày 21/6/2022.

  3. Chấp nhận yêu cầu trả lại bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ của ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H: Buộc ông Nguyễn Văn P trả cho ông Bùi Văn Đ và và Nguyễn Thị H 01 giấy chứng nhận QSDĐ số DĐ 966419 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 27/11/2022 cho ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H - Thửa đất số 550, tờ bản đồ số 14, diện tích 292,5 m² tại thôn Y, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, bị đơn ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng ông Đ, bà H chỉ có nghĩa vụ trả ông P tiền gốc và tiền lãi của số tiền 100 triệu đồng, không phải trả gốc và lãi của khoản vay 500 triệu, đồng thời buộc ông P phải trả lại ông bà 01 giấy chứng nhận QSDĐ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H trong thời hạn luật định nên được Tòa án xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Giấy vay tiền ngày 21/6/2022 do nguyên đơn xuất trình thể hiện bị đơn vay của nguyên đơn 600 triệu đồng, thời hạn vay là 06 tháng kể từ ngày 21/6/2022 đến 21/12/2022, lãi suất theo ngân hàng. Giấy vay tiền do bị đơn (là ông Đ) viết. Chữ ký và chữ viết “Bùi Văn Đ”, “Nguyễn Thị H” dưới mục “Người vay” trong giấy vay tiền là của ông Đ, bà H. Nội dung được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận nên chứng cứ này không phải chứng minh.

- Về tiền gốc: Đồng bị đơn trình bày giấy vay tiền này do đồng bị đơn viết trong tình trạng say rượu nên không nhận thức được tính đúng đắn trong hành vi của mình. Tuy nhiên đồng bị đơn không đưa ra được căn cứ chứng minh. Mặt khác, căn cứ vào nét chữ, câu từ trong giấy đều được thể hiện rõ ràng, mạch lạc, nội dung giấy vay thể hiện rõ nét từng mục người vay tiền, người cho vay tiền, số tiền vay, thời hạn vay, thời hạn trả, lãi suất theo lãi suất Ngân hàng. Người vay còn ghi rõ nội dung “Tôi đã nhận đủ số tiền trên”. Do vậy lời trình bày của đồng bị đơn về việc viết giấy vay tiền trong tình trạng không tỉnh táo, minh mẫn không được chấp nhận.

Đồng bị đơn chỉ thừa nhận vay của nguyên đơn 100 triệu đồng, còn 500 triệu là nguyên đơn đưa cho bà N để bà N mang đi trả nợ hộ bà H ở khoản vay của nhà H3 (H4) ở B. Nội dung này đã được cấp sơ thẩm đối chất cụ thể: Nguyên đơn khẳng định đã giao đủ 600 triệu cho bị đơn, không giao tiền cho bà N và bà N cũng xác nhận không cầm tiền để đi trả nợ hộ cho bị đơn. Lời trình bày của đồng bị đơn về việc chỉ vay nguyên đơn 100 triệu đồng là mâu thuẫn với lời trình bày ban đầu của đồng bị đơn (là vay 600 triệu đồng) và không đúng với nội dung ghi trong Giấy vay tiền là “tôi đã nhận đủ số tiền trên”. Ngoài ra, đồng bị đơn còn thừa nhận đã trả nguyên đơn 06 tháng tiền lãi là 36 triệu đồng, mức lãi suất 1%/tháng, trả lãi trên toàn bộ số tiền gốc là 600 triệu. Vì vậy, lời trình bày của bị đơn về việc chỉ vay nguyên đơn 100 triệu đồng cũng không được chấp nhận.

- Về tiền lãi: Hai bên thỏa thuận trả lãi theo ngân hàng là 9%/năm tương đương 0,75%/tháng.

Thời gian vay từ ngày 22/6/2022, cả nguyên đơn và bị đơn đều trình bày hai bên khi trả lãi cho nhau đều không lưu giữ giấy tờ gì chứng minh về việc trả lãi. Nguyên đơn khẳng định đồng bị đơn mới trả được 02 tháng tiền lãi là 12 triệu, bị đơn cho rằng đã trả được 06 tháng tiền là 36 triệu. Do các bên chỉ có lời trình bày mà không có chứng cứ chứng minh nên xác nhận đồng bị đơn đã trả cho nguyên đơn 02 tháng tiền lãi theo lời thừa nhận của nguyên đơn.

Do đó, thời gian tính lãi được tính từ ngày 22/8/2022 đến ngày 30/8/2024 là 24 tháng 08 ngày. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu trả lãi 24 tháng nên chấp nhận sự tự nguyện này của nguyên đơn.

Như vậy, số tiền lãi được tính như sau: 600 triệu đồng x 0,75%/tháng x 24 tháng = 108 triệu đồng.

Từ những phân tích nêu trên, bản án sơ thẩm xác nhận bị đơn vay của nguyên đơn là 600 triệu đồng, đã buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 600 triệu đồng tiền gốc và 108 triệu đồng tiền lãi là có căn cứ.

[2.2] Đối với yêu cầu đòi giấy chứng nhận QSDĐ của đồng bị đơn thì thấy:

Trong giấy vay tiền ngày 21/6/2022 thể hiện nội dung: “Đã ký gửi tài sản số QSDĐ ở của tôi là Bùi Văn Đ và vợ là Nguyễn Thị H”. Ngoài nội dung ghi như trên, các bên xác định không ký kết bất cứ văn bản giấy tờ gì liên quan đến việc thế chấp QSDĐ để đảm bảo khoản vay của bị đơn.

Bị đơn trình bày không đưa giấy chứng nhận QSDĐ cho nguyên đơn mà do bà N đưa cho nguyên đơn. Lời trình bày của bị đơn mâu thuẫn với nội dung bị đơn ghi trong Giấy vay tiền nêu trên, mâu thuẫn với lời trình bày của bà N. Mặt khác, nguyên đơn và những người làm chứng đều khẳng định, bị đơn là người đưa bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ cho nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, đồng bị đơn cũng thừa nhận giấy chứng nhận QSDĐ này được sử dụng để đi vay nhiều khoản vay trước đó. Vì vậy, có căn cứ xác định bị đơn đã giao giấy chứng nhận QSDĐ cho nguyên đơn.

Xét thấy, việc nguyên đơn giữ giấy chứng nhận QSDĐ của bị đơn không trên cơ sở hợp đồng thế chấp, cầm cố, cầm giữ tài sản hợp pháp theo quy định của Bộ luật dân sự. Thửa đất đứng tên bị đơn trong giấy chứng nhận QSDĐ không phải là tài sản để đảm bảo khoản vay của bị đơn. Do đó, yêu cầu của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải trả lại giấy chứng nhận QSDĐ được chấp nhận.

Bị đơn kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp được chứng cứ, tài liệu mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Vì vậy, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

[3] Án phí: Bị đơn là người cao tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị bệnh hiểm nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho đồng bị đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 13/2024/DSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị H

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND huyện Gia Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 44/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phố - Bùi Văn Đãi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger