|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 44/2025/DS-PT
Ngày 17/02/2025
V/v: "Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
- Các thẩm phán: Bà Võ Bích Hải. Ông Phạm Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 447/2024/TLPT-DS ngày 09/12/2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 113/2024/DSST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 518/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Ông Phạm Văn H, sinh năm 1970
Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
-
Bà Phạm Thị T, sinh năm 1960
Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
-
Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1967
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Văn H, sinh năm 1970. (Hợp đồng ủy quyền ngày 17/3/2023)
-
Bà Phạm Thị E, sinh năm 1953
Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
-
Ông Phạm Văn V, sinh năm 1963 (chết ngày 26/11/2022)
Những người thừa kế của ông V gồm:
- 5.1. Bà Trần Thị M, sinh năm 1964.
- 5.2. Anh Phạm Thế M1, sinh năm 1985.
- 5.3. Phạm Thị Kiều Y, sinh năm 1990.
- 5.4. Anh Phạm Hoàng N, sinh năm 1993.
- 5.5. Chị Phạm Thị Kiều L, sinh năm 1996.
- Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang
- 5.6. Chị Phạm Thị Kiều O, sinh năm 1987.
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ
- (Bà M, chị O, chị Y, anh N, chị L ủy quyền cho anh Phạm Thế M1 theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/7/2024). (anh M1 có mặt)
-
Bà Phạm Thị M2, sinh năm 1950
Địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Văn K, sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.(Hợp đồng ủy quyền ngày 09/8/2023)
-
ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1955 (chết ngày 02/9/2009)
Những người thừa kế thế vị của ông Đ gồm: Phạm Văn T2, sinh năm 1977. Phạm Văn K, sinh năm 1979. Phạm Thị T3, sinh năm 1980.
(Anh T2, chị T3 ủy quyền cho anh K, giấy ủy quyền ngày 22/8/2022)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: số A ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị N1, sinh năm 1960. (Bà N1 ủy quyền cho ông Đ1 theo hợp đồng ủy quyền ngày 11/7/2024).
Địa chỉ: số A ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn Đ1 .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các nguyên đơn trình bày: Cha của các ông bà là cụ Phạm Văn K1, sinh năm 1920 (chết năm 2015) và cụ Lê Thị N2, sinh năm 1925 (chết năm 2015). Hai cụ có tất cả 08 người con gồm: bà Phạm Thị M2, sinh năm 1950. Bà Phạm Thị E, sinh năm 1953. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1955 (chết ngày 02/9/2009). Ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1958. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1960. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1963 (chết ngày 26/11/2022). Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1967. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1970.
Về tài sản, lúc sinh thời cụ K1 và cụ N2 đã tạo lập được phần đất diện tích 21.455 m², tại các thửa 608, diện tích 4.767 m²; thửa 609, diện tích 5.045 m²; thửa 610, diện tích 11.643 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575, được UBND huyện Ô cũ cấp ngày 01/9/2000 do cụ Phạm Văn K1 đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, TP ..
Đối với phần đất tại thửa 608, khi còn sống cha mẹ cho các anh chị em gồm bà Phạm Thị T, ông Phạm Văn Đ và ông Phạm Văn H để cất nhà ở nhưng cũng chưa tách quyền sử dụng, còn những anh chị em khác cũng được cha mẹ chia phần ở những phần đất khác. Các ông bà không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất 608.
Đối với phần đất tại thửa 609, 610 cụ K1 đứng tên quyền sử dụng, năm 2001 cha mẹ có cho ông Phạm Văn Đ1 mướn để canh tác. Đến năm 2015 cụ N2 và cụ K1 chết, các ông bà nhiều lần yêu cầu ông Đ1 chia thừa kế thì ông Đ1 không thực hiện.
Nay các nguyên đơn yêu cầu: Buộc ông Phạm Văn Đ1 phải chia di sản thừa kế là quyền sử phần đất thửa 609, diện tích 4.103,2 m²; thửa 610, diện tích 11.643,6 m², (theo Bản trích đo địa chính số 1095/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 của Trung tâm K2), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575, được UBND huyện Ô cũ cấp ngày 01/9/2000 do cụ Phạm Văn K1 đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, TP .. Yêu cầu chia làm 08 phần, mỗi người được hưởng 01 phần, yêu cầu được chia giá trị theo như Biên bản định giá thị trường ngày 14/6/2024.
- Bị đơn ông Phạm Văn Đ1 trình bày: Ông xác nhận là cha mẹ là cụ K1 và cụ N2 có tất cả 08 người con đã kể trên.
Về phần tài sản: Thửa đất 608 thì các anh chị em đã cất nhà để ở. Đối với phần đất tại thửa 609, 610 có nguồn gốc của ông nội là cụ Phạm Văn T4, cụ T4 tặng cho cha ông là cụ K1. Cụ kiến mới tặng cho lại ông sử dụng phần đất này từ tháng 02/1985, khi đó hai thửa đất một nửa là đất ruộng trồng lúa, một nửa là đất đã lên bờ trồng cây. Đến tháng 3/2023 ông lên bờ hết phần đất ruộng còn lại để làm vườn, trồng cây ăn trái. Từ khi cụ K1 cho ông thì ông sử dụng đến nay, các nguyên đơn không có sử dụng.
Các anh chị em ai cũng được cha mẹ cho đất, phần đất này là của cha cho chứ không phải là tài sản thừa kế của cụ K1 để lại mà yêu cầu chia. Ông có yêu cầu phản tố công nhận phần đất này cho ông, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 113/2024/DSST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
-
Buộc ông Phạm Văn Đ1 phải chia giá trị quyền sử dụng đất tại các thửa 609, 610, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575, do ông Phạm Văn K1 đứng tên cấp ngày 01/9/2000 cho các đồng thừa kế như sau:
Ông Phạm Văn H được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bà Phạm Thị T được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ông Phạm Văn T1 được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bà Phạm Thị E được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ông Phạm Văn V có những người thừa kế của ông V là bà Trần Thị M, anh Phạm Thế M1, chị Phạm Thị Kiều Y, anh Phạm Hoàng N, chị Phạm Thị Kiều L, chị Phạm Thị Kiều O được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bà Phạm Thị M2 được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ông Phạm Văn Đ có những người thừa kế thế vị là anh Phạm Văn T2, anh Phạm Văn K, chị Phạm Thị T5 được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn Đ1.
Ông Phạm Văn Đ1 được quyền sử dụng và làm thủ tục đứng tên các thửa đất 609, diện tích 4.103,2 m²; thửa 610, diện tích 11.643,6 m² (theo Bản trích đo địa chính số 1095/VPĐKĐĐ ngày 25/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã tuyên xử. Bị đơn ông Phạm Văn Đ1 đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm; ông Đ1 trình bày: lúc cha ông còn sống thì các anh chị em không ai chăm lo, Cha mẹ đã phân chia tài sản riêng cho từng người ai cũng có phần. Phần đất tại hai thửa trên 609, 610 là cha mẹ cho ông. Hiện tại còn thửa 608 thì các anh chị em còn ở trên thửa này thì không yêu cầu chia. Ông yêu cầu sửa án sơ thẩm bác yêu cầu của các nguyên đơn. Công nhận cho ông hai thửa đất trên. Đồng thời, xem xét lại lúc cha mẹ còn sống ông đã đứng ra mượn vàng 7-8 lượng để lo cho cha mẹ đề nghị các anh chị em phải gom góp để trả lại.
Phía các nguyên đơn thống nhất với bản án sơ thẩm. Đề nghị giữ y án sơ thẩm.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Các nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là cac thửa đất 609, 610. Qua xem xét hai thửa đất trên còn đứng tên cụ K1. Trước khi mất cụ K1 chưa sang tên quyền sử dụng đất cho ông Đ1 hay có di chúc để lại tặng cho ông Đ1 nên quyền sử dụng đất tại hai thửa đất trên vẫn còn của cụ K1 nên các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản là có căn cứ. Bản án sơ thẩm tuyên là đúng quy định pháp luật nên đề nghị giữ nguyên.
Đối với yêu cầu của ông Đ1 yêu cầu cầu công nhận hai thửa đất trên cho ông là không có căn cứ. Đối với thửa 608 hiện đứng tên cụ K1, không ai yêu cầu phân chia và số vàng ông Đ1 cho rằng có mượn để chữa bệnh cho cụ K1 lúc còn sống nếu có tranh chấp tách ra giải quyết thành vụ kiện khác. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: "Tranh chấp về thừa kế tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định pháp luật. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hàng thừa kế: Cụ Phạm Văn K1, sinh năm 1920 (chết năm 2015) và cụ Lê Thị N2, sinh năm 1925 (chết năm 2015). Hai cụ có tất cả 08 người con gồm: Bà Phạm Thị M2, sinh năm 1950, bà Phạm Thị E, sinh năm 1953. Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1955 (chết ngày 02/9/2009). Ông Phạm Văn Đ1, sinh năm 1958. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1960. Ông Phạm Văn V, sinh năm 1963 (chết ngày 26/11/2022). Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1967. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1970. Hai cụ không có con riêng hay con nuôi, cha mẹ hai cụ mất truớc hai cụ nên những người con của hai cụ là hàng thừa kế thứ nhất. Hàng thừa kế thứ nhất có 08 người.
[2.2] Về tài sản thừa kế: Cụ K1 và cụ N2 mất không để lại di chúc nên tài sản chia theo pháp luật. Tài sản gồm có: Phần đất diện tích 21.455 m², tại các thửa 608, diện tích 4.767 m²; thửa 609, diện tích 5.045 m²; thửa 610, diện tích 11.643 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575, được UBND huyện Ô cũ cấp ngày 01/9/2000 do cụ Phạm Văn K1 đứng tên, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, TP ..
Xét phần đất tại thửa 608, khi còn sống cha mẹ cho các anh chị em gồm bà Phạm Thị T, ông Phạm Văn Đ và ông Phạm Văn H để cất nhà ở nhưng cũng chưa tách quyền sử dụng, còn những anh chị em khác cũng được cha mẹ chia phần ở những phần đất khác. Các ông bà không yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất 608 nên Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét và giải quyết.
Xét phần đất tại thửa 609, 610 cụ K1 đứng tên quyền sử dụng, hai cụ không để lại di chúc tặng cho phần đất này cho bất cứ ai nên tài sản được chia theo quy định pháp luật làm 08 phần bằng nhau.
[2.3] Về phân chia tài sản thừa kế: Qua xem xét việc chia bằng hiện vật hay chia bằng tiền Hội đồng xét xử nhận thấy: Phần đất này sau khi cụ N2 và cụ K1 chết thì ông Đ1 đã trồng trồng lúa nhưng trước đó tại thửa 609 một phần là đất bờ trồng cây ăn trái, sau đó ông Đ1 sử dụng thì lên bờ toàn bộ và trồng cây ăn trái. Lúc ông Đ1 lên bờ thì anh chị em không ai có ý kiến hay tranh chấp. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của các bên, thuận lợi cho việc sử dụng đất, đảm bảo việc thi hành án thì cần chia giá trị quyền sử dụng đất (tức chia bằng tiền). Theo biên bản định giá tài sản ngày 14/6/2024 các đương sự cũng thống nhất giá đất trồng lúa (LUC) là 110.000 đồng/1m². Các nguyên đơn cũng yêu cầu được chia giá trị. Xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Diện tích thực tế thửa số 609, 610 có diện tích 15.746,8 m², được chia làm 8 phần gồm cho 08 người con là phù hợp. Diện tích 15.746,8 m² x 110.000 đồng/1m² = 1.732.148.000 đồng, được chia làm 8 phần. Vậy mỗi người sẽ được nhận 216.518.500 đồng. Tuy nhiên, các nguyên đơn yêu cầu mỗi người được nhận số tiền 200.000.000 đồng, số tiền còn lại để cho ông Đ1 là công sức giữ gìn, tôn tạo phần đất, đây là sự tự nguyện của các nguyên đơn, cũng là có lợi cho bị đơn. Bản án sơ thẩm xem xét và phân chia như thế là có căn cứ.
[3] Xét yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn Đ1 cho rằng phần đất tại các thửa 609, 610 là của cụ Kiến tặng cho ông nhưng qua xem xét thì Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Đ1 không có bất kì giấy tờ nào chứng minh cụ Kiến tặng cho hay có di chúc cho ông. Hiện tại cụ K1 cũng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên yêu cầu phản tố của ông không được chấp nhận. Tuy nhiên, qua xem xét thì phần đất tranh chấp tại hai thửa 609, 610 ông hiện canh tác nên cho ông tiếp tục sử dụng. Ông thối hoàn giá trị còn lại cho các kỉ phần thừa kế trên là phù hợp.
[4] Đối với thửa 608 còn đứng tên cụ K1, không ai yêu cầu phân chia nên Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét và giải quyết. Đối với số vàng ông Đ1 khai tại phiên tòa phúc thẩm là có mượn 7-8 lượng của người quen của ông để lo chữa bệnh cho các cụ, phía các nguyên đơn không thừa nhận. Hai vấn đề này tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét và giải quyết. Do đó, nếu có tranh chấp tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn H phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005061 ngày 16/3/2023. Ông H còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Ông Phạm Văn T1 phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005060 ngày 16/3/2023. Ông H còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Trần Thị M, anh Phạm Thế M1, chị Phạm Thị Kiều Y, anh Phạm Hoàng N, chị Phạm Thị Kiều L, chị Phạm Thị Kiều O phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005062 ngày 16/3/2023. Các ông, bà này còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Anh Phạm Văn T2, anh Phạm Văn K, chị Phạm Thị T5 phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005050 ngày 14/3/2023. Các ông, bà này còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Phạm Thị T, Phạm Thị E, Phạm Thị M2, ông Phạm Văn Đ1 được miễn án phí.
[6] Về chi phí thẩm định, bản vẽ: Ông Phạm Văn H đã nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Nguyên đơn, bị đơn mỗi người phải chịu một phần bằng nhau, mỗi người phải trả lại cho ông Phạm Văn H số tiền 1.250.000 đồng.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Đáng lý ra, ông Đ1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do ông là người cao tuổi nên được miễn.
[8] Xét đề nghị của vị dại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 91, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Các Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 651, Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 100, 203 Luật đất đai năm 2013.
Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn Đ1.
Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
-
Buộc ông Phạm Văn Đ1 phải chia giá trị quyền sử dụng đất tại các thửa 609, 610, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00575, do ông Phạm Văn K1 đứng tên cấp ngày 01/9/2000 cho các đồng thừa kế như sau:
Ông Phạm Văn H được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bà Phạm Thị T được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ông Phạm Văn T1 được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bà Phạm Thị E được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ông Phạm Văn V có những người thừa kế của ông V là bà Trần Thị M, anh Phạm Thế M1, chị Phạm Thị Kiều Y, anh Phạm Hoàng N, chị Phạm Thị Kiều L, chị Phạm Thị Kiều O được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Bà Phạm Thị M2 được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
Ông Phạm Văn Đ có những người thừa kế thế vị là anh Phạm Văn T2, anh Phạm Văn K, chị Phạm Thị T5 được nhận giá trị số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn Đ1.
Ông Phạm Văn Đ1 được quyền sử dụng và làm thủ tục đứng tên các thửa đất 609, diện tích 4.103,2 m²; thửa 610, diện tích 11.643,6 m² (theo Bản trích đo địa chính số 1095/VPĐKĐĐ ngày 25/9/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).
- Về án phí DSST: Ông Phạm Văn H phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005061 ngày 16/3/2023. Ông H còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Ông Phạm Văn T1 phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005060 ngày 16/3/2023. Ông H còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Trần Thị M, anh Phạm Thế M1, chị Phạm Thị Kiều Y, anh Phạm Hoàng N, chị Phạm Thị Kiều L, chị Phạm Thị Kiều O phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005062 ngày 16/3/2023. Các ông, bà này còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Anh Phạm Văn T2, anh Phạm Văn K, chị Phạm Thị T5 phải chịu 10.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.650.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005050 ngày 14/3/2023. Các ông, bà này còn phải nộp thêm 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Bà Phạm Thị T, Phạm Thị E, Phạm Thị M2, ông Phạm Văn Đ1 được miễn án phí.
5. Về chi phí thẩm định, bản trích đo địa chính: Bà Phạm Thị T, ông Phạm Văn T1, bà Phạm Thị E, những người thừa kế của ông Phạm Văn V, những người thừa kế của ông Phạm Văn Đ, bà Phạm Thị M2, ông Phạm Văn Đ1; mỗi người phải trả lại cho ông Phạm Văn H số tiền 1.250.000 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Đáng lý ra ông Đ1 phải chịu nhưng do ông là người cao tuổi nên được miễn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Nơi nhận:
|
|
Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Văn Bình - Võ Bích Hải |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 44/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thừa kế tài sản
