Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/DS-PT

Ngày 04 - 6 - 2025

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hân;

Ông Ngô Thế Tương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:

Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 3 năm 2025, ngày 28 tháng 5 năm 2025 và ngày 04 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 15/2025/QĐPT-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 05/2025/TB-TA ngày 18 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 02/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2025; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 14/2025/TB-TA ngày 26 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Ngô Thị T, sinh năm 1933; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ T: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1978; (có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Đình C, sinh năm 1952; (có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Lê Thị M, sinh năm 1957; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

Người đại diện theo ủy quyền bà M đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị V, sinh năm 1969; (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A P, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

  1. Ông Lê Đình R, sinh năm 1959; (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông R: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1963 (theo Giấy ủy quyền ngày 23/5/2025) (có mặt)

Đều địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1961; (có mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  1. Bà Lê Thị G, sinh năm 1963; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1967; (vắng mặt phiên tòa ngày 28/3/2025, có mặt phiên tòa ngày 28/5/2025)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Lê Thị V, sinh năm 1969; (có mặt)

Địa chỉ: Tổ A P, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum.

  1. Anh Lê Đức T2, sinh năm 1979 và chị Phạm Thị H1, sinh năm 1981; (có mặt)

Đều địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Bà Trần Thị G1, sinh năm 1972; (vắng mặt phiên tòa ngày 28/3/2025, có mặt phiên tòa ngày 28/5/2025)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  1. Chị Lê Thị D, sinh năm 1995; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  1. Anh Lê Văn D1, sinh năm 2000; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  1. Chị Lê Thị D2, sinh năm 2002; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  1. Anh Lê Văn T3, sinh năm 2004; (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  1. Anh Lê Đại D3, sinh năm 1999; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Chị Lê Thị Hồng T4, sinh năm 2005; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Người kháng cáo: Bị đơn - Bà Lê Thị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn - cụ Ngô Thị T trình bày:

Cụ là vợ của cụ Lê Văn L, sinh năm 1930, chết ngày 01/8/1986. Cụ và cụ L sinh được 09 người con gồm: ông Lê Đình C, ông Lê Đình R, bà Lê Thị G, ông Lê Văn Q, bà Lê Thị M, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị V, ông Lê Văn M1 (sinh năm 1970, chết ngày 11/7/2004), ông Lê Xuân B (sinh năm 1975, chết ngày 15/6/2020). Hai cụ không có con riêng, con nuôi.

Cụ L chết không để lại di chúc, di sản của cụ L gồm: Thửa đất số 360, tờ bản đồ địa chính số 01, bản đồ đo đạc năm 1995, diện tích 525m² trong đó đất ở là 400m², đất trồng cây lâu năm là 125m² ở địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Thửa đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 583954, số vào sổ: 74 ngày 12/11/1996 cho cụ T. Nguồn gốc thửa đất là tài sản chung của vợ chồng cụ. Ngày 09/9/2011, con trai út của cụ là ông Lê Xuân B ép cụ ký di chúc chia đất cho vợ chồng ông B sau đó vợ chồng ông B tự ý xây nhà trên đất của cụ, không quan tâm, trông nom, chăm sóc cụ dẫn đến mâu thuẫn gia đình trầm trọng, ảnh hưởng đến sức khoẻ của cụ. Ngày 15/8/2022, cụ đã làm đơn xin huỷ di chúc trên, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T chứng thực. Do gia đình cụ không thống nhất được việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ nên cụ làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của cụ L theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn - bà Lê Thị T1 trình bày:

Năm 1998, bà kết hôn với ông Lê Xuân B là con trai của cụ L và cụ T. Vợ chồng bà ở với cụ T trên thửa đất số 360, tờ bản đồ số 01, tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ngày 09/9/2011, cụ T gọi vợ chồng bà và anh, chị em của chồng bà đến để ông Lê Đình C viết hộ di chúc để cụ T ký, đã được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực và đóng dấu, nội dung cho vợ chồng bà đất làm nhà ở là 395m² trong đó đất ở là 289m², đất trồng cây lâu năm là 106m². Năm 2012, vợ chồng bà đã xây 01 nhà mái bằng có diện tích 70m², bếp có diện tích 20m², sân có diện tích 40m², cổng dậu có diện tích 50m². Năm 2020, chồng bà chết, hiện nay cụ T yêu cầu chia thừa kế của cụ L, bà không đồng ý vì gia đình đã đồng ý cho vợ chồng bà phần đất trên, cụ T đã viết di chúc cho vợ chồng bà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Lê Thị T1 trình bày:

Bà là con gái của cụ L và T, năm 1986 cụ L chết không để lại di chúc. Năm 1995, cụ T đã lấy đất của cụ L chia cho ông Lê Xuân Q1 01 thổ, ông Lê Văn M1 01 thổ. Đến năm 2011, cụ T nói các con họp lại từ chối tài sản để cho ông B làm nhà, đến nay đã được 12 năm. Việc tặng cho được cụ T ra Ủy ban nhân dân xã Đ làm thủ tục cho ông B, bà T1 với tổng diện tích là 395m² trong đó đất ở là 289m², đất trồng cây lâu năm là 106m². Việc mẹ bà đã cho đất ông B, bà T1 là đúng sự thật, không thay đổi vì vậy bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ T.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Lê Thị V trình bày:

Bà là con của cụ L và cụ T. Quá trình chung sống, cụ L và cụ T có tạo lập được tài sản như cụ T kê khai. Nay cụ T khởi kiện chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, phần bà được hưởng bà sẽ nhận.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Lê Đình R trình bày: Nhất trí với phần trình bày của bà V. Phần di sản ông được hưởng, ông sẽ nhận và giao lại cho cụ T.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Lê Đình C trình bày:

Ông là con của cụ L và cụ T. Quá trình chung sống, cụ L và cụ T có tạo lập được tài sản như cụ T kê khai. Nay cụ T khởi kiện bà T1 yêu cầu chia tài sản là thửa đất 360 của cụ L, ông đề nghị Toà án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, phần ông được hưởng ông sẽ nhường lại cho con trai ông là anh Lê Đức T2.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Lê Thị M trình bày: Nhất trí với phần trình bày của ông C, bà nhường lại phần bà được hưởng cho cháu trai bà là anh Lê Đức T2.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị G trình bày:

Bà là con của cụ L và cụ T. Quá trình chung sống, cụ L và cụ T có tạo lập được tài sản như cụ T kê khai. Nay cụ T khởi kiện bà T1 để chia tài sản là thửa đất 360 của cụ L, bà đề nghị Toà án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật, phần bà được hưởng, bà sẽ nhường lại cho cụ T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lê Văn Q trình bày:

Nhất trí với phần trình bày của bà Lê Thị G, ông nhường lại phần ông được hưởng cho mẹ ông là cụ Ngô Thị T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Đức T2, chị Phạm Thị H1 trình bày:

Anh là con trai lớn của ông Lê Đình C (con cụ L và cụ T). Năm 2009, vợ chồng anh có mua 01 thửa đất của ông Lê Văn M1 và bà Trần Thị G1 do bà G1 ký (ông M1 là chú ruột của anh T2). Việc mua bán có hợp đồng chuyển nhượng ký kết giữa hai gia đình, đã được Ủy ban nhân dân xã Đ ký xác nhận. Về nguồn gốc của thửa đất trên là do cụ L và cụ T cho vợ chồng ông M1 trước năm 1996, thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M1. Năm 2009, vợ chồng anh đã đổi thửa đất đã mua của ông M1, bà G1 đổi cho cụ T bằng 260m², việc đổi đất chỉ bằng lời nói, không có giấy tờ gì. Hiện nay, vợ chồng anh đã xây nhà và công trình khép kín trên thửa đất đã đổi cho cụ T, trước khi đổi đất cho cụ T thì trên đất không có tài sản gì, không có công trình, cây trồng lâu năm trên đất. Vợ chồng anh đề nghị được tiếp tục sử dụng diện tích đã đổi cho cụ T và đề nghị Toà án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh, chị với bà G1 và công nhận việc chuyển đổi đất giữa vợ chồng anh, chị với cụ T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Lê Hồng T4 trình bày:

Chị là con gái của ông B và bà T1. Chị có biết việc tranh chấp thừa kế liên quan đến quyền sử dụng đất của mẹ chị và các bác, bà của chị. Quan điểm của chị như quan điểm của mẹ chị, đề nghị giữ nguyên diện tích đất 395m² mà bà nội (cụ T) đã cho bố mẹ chị.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Lê Đại D3 trình bày:

Cụ T đã lập di chúc về việc thừa kế di sản, tài sản cho ông B và bà T1 với diện tích 395m². Vì vậy, anh không đồng ý yêu cầu khởi kiện của cụ T, đề nghị Toà án giải thích thuyết phục để cụ T rút đơn, tránh mất mát tình cảm gia đình.

* Ngày 16/3/2023, Toà án nhân dân huyện Tiền Hải đã ban hành Quyết định Uỷ thác thu thập chứng cứ số 30/2023/QĐ-UTTA đề nghị Toà án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum tiến hành thu thập chứng cứ đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (là vợ, con của ông Lê Văn M1 đã chết) gồm: Bà Trần Thị G1, sinh năm 1972; chị Lê Thị D, sinh năm 1995; anh Lê Văn D1, sinh năm 2000; chị Lê Thị D2, sinh năm 2002; anh Lê Văn T3, sinh năm 2004, đều có địa chỉ tại thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Kết quả: Ngày 18/4/2023, Toà án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum có Thông báo số 16/TB-TA nội dung: khi Toà án đến tống đạt trực tiếp Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập các đương sự đến Toà án làm việc thì các đương sự nhận các văn bản nhưng không ký vào biên bản giao nhận và cũng không đến Toà án làm việc. Toà án nhân dân huyện Tiền Hải đã có công văn gửi Ủy ban nhân dân xã S, huyện S để phối hợp triệu tập các đương sự đến Ủy ban nhân dân xã để làm việc nhưng các đương sự vẫn cố tình không đến làm việc.

* Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình cung cấp:

Về nguồn gốc đất của cụ Ngô Thị T (vợ cụ Lê L, đã chết): theo bản đồ 1990, thửa đất số 331, tờ bản đồ số 01 có diện tích 890 m² đất ở mang tên cụ Lê L, có địa chỉ tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình, đất do Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

Theo bản đồ 1995, thửa đất số 331 được tách thành 02 thửa: Thửa đất số 360, tờ bản đồ địa chính số 01, bản đồ đo đạc năm 1995, có diện tích 525m² trong đó đất ở là 400m², đất trồng cây lâu năm là 125m² mang tên cụ Ngô Thị T, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 583954, số vào sổ 74 ngày 12/11/1996. Thửa 361, tờ bản đồ địa chính số 01, bản đồ đo đạc năm 1995, có diện tích 260m² đất ở, mang tên ông Lê Văn M1, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ 117 ngày 12/11/1996. Trong quá trình sử dụng đất, theo thông tin gia đình cung cấp, gia đình ông M1 đã chuyển nhượng thửa đất cho anh Lê Đức T2 là con trai ông Lê Đình C (ông C là anh trai ông M1), việc chuyển nhượng đã được Ủy ban nhân dân xã xác nhận.

Trong quá trình sử dụng đất, năm 2011, cụ T có lập di chúc về việc thừa kế tài sản, nội dung cho vợ chồng ông Lê Xuân B con trai cụ và vợ là bà Lê Thị T1 đất làm nhà ở và vườn tạp diện tích 395m² trong đó đất ở là 289m², đất trồng cây lâu năm là 106m². Ông B, bà T1 đã xây nhà ở và công trình phụ trợ trên diện tích đất nhưng đến nay, cụ T đã làm thủ tục huỷ di chúc, đã được Ủy ban nhân dân xã xác nhận.

Trong quá trình sử dụng đất, ông B, bà T1 thoả thuận với anh Lê Đức T2 là ông B, bà T1 sử dụng diện tích đất mà anh T2 nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn M1 còn anh T2 xây dựng nhà ở và sử dụng phần đất phía tây thửa đất của cụ T cho ông B, bà T1 sử dụng. Việc đổi đất trên là thoả thuận miệng trong gia đình, không qua chính quyền địa phương, các đương sự đã sử dụng ở và quản lý ổn định từ năm 2011 đến nay.

Về việc diện tích đo đạc tăng thêm so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Ngô Thị T là do sai số trong đo đạc

* Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, các đương sự khác đều yêu cầu chia thừa kế; bị đơn là bà Lê Thị T1, người có quyền, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Hồng T4 không đồng ý chia thừa kế, đề nghị giữ nguyên di chúc có dấu đỏ của Ủy ban nhân dân xã Đ, nếu cụ T đòi lại đất thì phải có đủ 09 anh, chị em trong gia đình.

Về chi phí tố tụng các đương sự có ý kiến ai được hưởng phần tài sản bao nhiêu thì chịu phần chi phí thẩm định, định giá theo giá trị tài sản được hưởng.

Về án phí, các đương sự đồng ý chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà sơ thẩm, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cụ T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông C, ông R, chị H1 đều yêu cầu chia thừa kế, đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử sụng đất giữa vợ chồng anh T2 và bà G1, đề nghị Tòa án công nhận việc chuyển đổi đất giữa vợ chồng anh T2 và cụ T.

* Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, Biên bản định giá ngày 01/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình thể hiện:

- Về giá trị quyền sử dụng đất:

  • + 01m² đất thổ có giá trị là 510.000 đồng.
  • + 01m² đất trồng cây lâu năm có giá trị là 45.000 đồng.
  • + Tổng giá trị quyền sử dụng đất là: 211.186.500 đồng.

- Về tài sản trên đất:

  • + Tài sản trên thửa đất cụ Ngô Thị T đang ở: Nhà chính xây dựng năm 2021, diện tích 15m², giá trị còn lại là 56.856.000 đồng; nhà thờ xây dựng năm 2010, giá trị còn lại là 68.247.920 đồng, ngoài ra còn tường dậu, sân nhà thờ, giá trị còn lại thấp, không định giá. Tổng giá trị tài sản trên thửa đất cụ Ngô Thị T đang ở là 125.103.920 đồng.
  • + Tài sản trên thửa đất bà Lê Thị T1 đang ở: Nhà mái bằng, xây năm 2012, giá trị còn lại là 180.649.560 đồng; công trình phụ phía sau xây dựng năm 2012, giá trị còn lại là 9.641.600 đồng; công trình phụ giáp vườn xây dựng 2012, giá trị còn lại là 6.288.000 đồng; cánh cổng xây dựng năm 2012, giá trị còn lại là 1.500.000 đồng. Về cây trồng do bà T1 trồng có tổng giá trị là 1.235.000 đồng. Ngoài ra còn có mái tôn, tường dậu, bể nước, trụ cổng giá trị còn lại thấp, không định giá. Tổng giá trị tài sản trên đất bà T1 đang ở là 199.314.160 đồng.
  • + Tài sản trên thửa đất vợ chồng anh Lê Đức T2 đang ở: Nhà chính mái bằng, giá trị còn lại là 199.774.120 đồng; công trình phụ, giá trị còn lại là 12.361.556 đồng; sân dậu, giá trị còn lại là 3.808.202 đồng; móng dậu, giá trị còn lại là 1.126.158 đồng; móng đào, giá trị còn lại là 372.583 đồng. Ngoài ra còn sân bê tông, ngõ đi, cổng dậu, giá trị còn lại thấp, không định giá. Tổng giá trị tài sản trên đất vợ chồng anh T2 đang ở là 217.442.619 đồng.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 05/2024/QĐ-SCBSBA ngày 11/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Áp dụng các Điều 689, 696, 698, 699, 670, 671 Bộ luật Dân sự năm 2005; các Điều 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Công nhận phần diện tích 111m² đất, bao gồm 79,3m² đất ở và 31,7m² đất trồng cây lâu năm để làm nơi thờ cúng (đã xây nhà thờ) trong tổng diện tích 525m² (trong đó đất thổ là 400m², đất trồng cây lâu năm là 125m²), tại thửa đất số 360, tờ bản đồ địa chính số 01, bản đồ đo đạc năm 1995, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 583954, số vào sổ 74 ngày 12/11/1996 mang tên cụ Ngô Thị T, có địa chỉ tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo kết quả đo đạc ngày 01/6/2023 là là 559,7m², trong đó 400m² đất ở và 159,7m² đất trồng cây lâu năm. Trên phần diện tích đất trên có các tài sản gồm nhà ở, nhà thờ, tường dậu, sân nhà thờ; các đồng thừa kế có quyền quản lý, sử dụng chung, có tứ cận như sau: Phía bắc giáp đất ông Lê Đình R, phía đông giáp đường giao thông, phía tây giáp đất ông Lê Văn Q và đất của anh Lê Đức T2, phía nam giáp đất bà Lê Thị T1.
  2. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị G1 và anh Lê Đức T2, chị Phạm Thị H1, chuyển nhượng thửa đất số 361, tờ bản đồ địa chính số 01, bản đồ đo đạc năm 1995, có diện tích 260m² đất thổ, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 117 ngày 12/11/1996 mang tên ông Lê Văn M1 (con trai cụ T), có địa chỉ tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo kết quả đo đạc ngày 01/6/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thửa đất trên có diện tích 287,2m².
  3. Công nhận sự chuyển đổi đất giữa anh Lê Đức T2, chị Phạm Thị H1 (phần đất 144,2m² trong phần đất nhận chuyển nhượng của bà Trần Thị G1) với cụ Ngô Thị T (phần đất 163,6m² thuộc thửa đất đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Ngô Thị T).
  4. Chấp nhận yêu cầu của cụ Ngô Thị T, chia di sản thừa kế của cụ Lê Văn L theo quy định của pháp luật. Xác nhận di sản thừa kế của cụ Lê Văn L là 224,35m² đất, trong đó 160,35m² đất ở và 64m² đất trồng cây lâu năm, trong tổng diện tích 525m² (trong đó đất thổ là 400m², đất trồng cây lâu năm là 125m²), tại thửa đất số 360, tờ bản đồ địa chính số 01, bản đồ đo đạc năm 1995, đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H583954, số vào sổ 74 ngày 12/11/1996 mang tên cụ Ngô Thị T, có địa chỉ tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo kết quả đo đạc ngày 01/6/2023 là là 559,7m², trong đó 400m² đất ở và 159,7m² đất trồng cây lâu năm.

4.1. Chia cho cụ Ngô Thị T được hưởng phần di sản thừa kế là 71,4m² đất, trong đó 51,03m² đất ở và 20,37m² đất trồng cây lâu năm (trong đó cụ được hưởng 30,6m² đất, trong đó 21,87m² đất ở và 8,73m² đất trồng cây lâu năm; được hưởng các phần di sản thừa kế do ông R, bà M cho là 40,8m² đất, trong đó 29,16m² đất ở và 11,64m² đất trồng cây lâu năm trồng cây lâu năm). Cụ T có 160,35m² đất ở và 64m² đất trồng cây lâu năm. Như vậy, tổng diện tích đất của cụ T có và được chia thừa kế là 295,75m² đất, gồm 211,38m² đất ở và 84,37m² đất trồng cây lâu năm. Tuy nhiên, do các đương sự khác đã xây dựng các công trình trên đất nên chia cho cụ Ngô Thị T 162,6m² đất, trong đó 157,3m² đất thổ và 5,3m² đất trồng cây lâu năm, trên phần đất trên có một số cây trồng và tường dậu do bà Lê Thị T1 (bị đơn) xây dựng và trồng trọt. Có tứ cận như sau: Phía bắc giáp đất bà Lê Thị T1, phía đông giáp đường giao thông, phía tây giáp đất anh Lê Đức T2, phía nam giáp đất anh Lê Đức T2.

4.2. Chia cho ông Lê Văn Q phần diện tích đất 55,3m² gồm 39,5m² đất thổ và 15,8m² đất trồng cây lâu năm. Có tứ cận như sau: Phía bắc giáp đất ông Lê Văn Q, phía đông giáp đất ông Lê Đình R và đất thờ cúng, phía tây giáp đất ông Lê Văn Q, phía nam giáp đất anh Lê Đức T2.

4.3. Chia cho bà Lê Thị T1, sinh năm 1978 và cùng các con là anh Lê Đại D3, chị Lê Thị Hồng T4 đều trú tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình phần diện tích đất 211,4m², trong đó 151m² đất thổ và 60,4m² đất trồng cây lâu năm, trên phần đất trên có Nhà mái bằng, công trình phụ phía sau, công trình phụ giáp vườn, cánh cổng, mái tôn, tường dậu, bể nước, trụ cổng do vợ chồng bà T1 xây dựng. Có tứ cận như sau: Phía bắc giáp đất thờ cúng, phía đông giáp đường giao thông, phía tây giáp đất anh Lê Đức T2, phía nam giáp đất cụ Ngô Thị T.

4.4. Anh Lê Đức T2 được quyền sử dụng phần diện tích đất 163,6m² đất, trong đó có 144,2m² đất thổ và 19,4m² đất trồng cây lâu năm, trên phần đất trên có Nhà chính mái bằng, công trình phụ, sân dậu, móng dậu, móng đào, sân bê tông, ngõ đi, cổng dậu do vợ chồng anh T2 xây dựng. Có tứ cận như sau: Phía bắc giáp đất ông Lê Văn Q, phía đông giáp đất thờ cúng, đất bà Lê Thị T1 và cụ Ngô Thị T, phía nam giáp đất anh Lê Đức T2.

4.5. Các bên đương sự có quyền đề nghị các cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

4.6. Cụ Ngô Thị T phải thanh toán cho ông Lê Văn R1, bà Lê Thị G, mỗi người số tiền là 7.697.700 đồng; thanh toán cho bà Lê Thị T1, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình số tiền giá trị của tường dậu và cây trồng là 6.235.000 đồng.

4.7. Ông Lê Văn Q phải thanh toán cho cụ Ngô Thị T số tiền tương ứng với phần diện tích đất vượt quá phần di sản thừa kế được chia là 556.000 đồng.

4.8. Anh Lê Đức T2 phải thanh toán cho cụ Ngô Thị T số tiền tương ứng với phần diện tích đất vượt quá phần diện tích chuyển đổi là 873.000 đồng.

4.9. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình phải thanh toán cho bà Lê Thị T1, sinh năm 1961 và các con, cùng trú tại thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum (do bà T1 làm đại diện) tổng số tiền là 7.697.700 đồng; thanh toán cho bà Trần Thị G1, sinh năm 1972 và các con, cùng trú tại thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum (do bà G1 làm đại diện) tổng số tiền là 7.697.700 đồng. Thanh toán cho ông Lê Đình C, bà Lê Thị M, bà Lê Thị V mỗi người số tiền là 7.697.700 đồng

Bà Lê Thị T1, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình phải thanh toán cho cụ Ngô Thị T số tiền 29.692.950 đồng. Bà T1 được nhận số tiền tường dậu và cây trồng cụ T phải thanh toán là 6.235.000 đồng. Đối trừ, bà T1 còn phải thanh toán cho cụ Ngô Thị T số tiền là 23.457.950 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản, án phí cũng như quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 25/10/2024, bị đơn - bà Lê Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 26/3/2025, bà T1 kháng cáo bổ sung với nội dung đề nghị Tòa án thu hồi lại diện tích đất cụ T đã tự ý chia cho ông Lê Văn Q, ông Lê Văn M1, ông Lê Văn B1 và anh Lê Văn T5 để chia thừa kế.

* Tại phiên toà phúc thẩm ngày 28/3/2025:

Bà Lê Thị T1 trình bày: Bà bổ sung yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chia toàn bộ di sản của cụ L, đề nghị tạm ngừng phiên tòa để xem xét, thẩm định tại chỗ toàn bộ tài sản.

Ông C, bà V, anh T5 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà T1 và chỉ xem xét trong phạm vi đơn khởi kiện của cụ T, đơn kháng cáo ban đầu của bà T1.

Hội đồng xét xử quyết định ngừng phiên toà để giải quyết yêu cầu của bà T1. Tuy nhiên, khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, bà T1 có mặt nhưng không hợp tác, không ký vào biên bản.

* Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 28/5/2025:

Ông C trình bày: Về nguồn gốc đất của hai cụ, ông nắm kĩ hơn các anh em trong gia đình vì ông là trưởng thôn từ thời điểm năm 1996 cho đến nay vẫn là trưởng thôn. Năm 1996, Nhà nước có chủ trương đo đạc đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn dân trên cơ sở địa phương tiến hành đo đất trong khu dân cư và áp cả diện tích ruộng ngoài đồng vào cho các cụ, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà cho toàn dân. Cụ T, ông M1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hoàn cảnh đó. Thời điểm cụ T, ông M1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông và các anh chị em con cụ L cụ T trừ bà V đang đi lao động ở nước ngoài thì những người còn lại đều biết nhưng không ai có ý kiến gì, đến khi cụ T đi khởi kiện cũng không ai phản đối việc cụ và ông M1 được cấp sổ đỏ, kể cả bà V. Diễn biến quá trình cụ T sử dụng đất, vào năm 2011 sau khi xây xong nhà thờ thì cụ T viết di chúc cho phần đất còn lại cho vợ chồng con trai út là ông B1 và bà T1 thì chính ông là người viết hộ di chúc. Tuy nhiên, quá sau đó bà T1 để mất đi tình cảm mẹ con, gia đình nên cụ T đã huỷ di chúc trên và kiện đòi chia thừa kế. Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Ông thấy việc Tòa án cấp huyện xét xử vụ án đã có cả tình và cả lý, ông đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm vì theo quyết định của bản án sơ thẩm đã có cả quyền lợi của nhà bà T1.

Bà V trình bày: Bà đề nghị Tòa án giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Việc cụ T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà mới được biết nhưng bà không có ý kiến gì về việc đó vì cụ T là mẹ của 9 người con, trai có, gái có, cụ có nhiều đất đai nhưng đến nay cụ phải ở trong gian nhà chật hẹp 15m² bao gồm cả bếp và nhà vệ sinh, bà T1 ở cạnh nhưng không hỏi han, chăm sóc mẹ, không giữ gìn tình cảm với các anh chị em trong gia đình nên không thể đòi hỏi nhiều quyền lợi. Thời điểm cụ T lập di chúc, bà không được biết vì thời điểm đó bà đang ở nước ngoài, nay cụ đã huỷ di chúc nên bà T1 cũng không thể vin vào đó mà tranh chấp với cụ T.

Bà G1 trình bày: Bà là vợ của ông M1, thời điểm ông M1 chết, ông C sang nhà nói với bà ký giấy tờ để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà mới ký chứ bà không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh T5, tuy nhiên quá trình xét xử sơ thẩm bà không tham gia và không có ý kiến gì. Bố bà là cụ L đã chết, sau này mẹ bà là cụ T đã lấy đất để chia cho em út trong gia đình là vợ chồng ông B1, bà T1, cụ T phải cho thì ông B1, bà T1 mới dám xây nhà. Do đó, bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên phương diện tình cảm, xem xét đất của ai để yên cho người đấy sử dụng, không yêu cầu Tòa án chia thừa kế của cụ L và giữ nguyên hiện trạng. Việc cụ T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc cụ T lập di chúc, bà đều biết nhưng không có ý kiến gì vì bà đã tạo lập cuộc sống ở nơi khác.

Ông Q, bà N (vợ ông R1) trình bày: Nhất trí với phần trình bày của ông C. Việc cụ T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và việc cụ T lập di chúc, ông Q, ông R1 đều biết nhưng không có ý kiến gì, nhất trí dành phần di sản mình được hưởng cho cụ T.

Bà T1 - Bị đơn trình bày: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Bà đề nghị Tòa án thu thập tờ giấy thể hiện 09 người anh em trong gia đình ký từ chối nhận di sản thừa kế để cho vợ chồng bà được hưởng di sản thừa kế như hiện tại. Khi chồng bà còn sống thì cụ cho, chồng bà mất thì cụ lấy lại, những người khác trong gia đình đều không thừa nhận, chối bỏ sự thật nên bà không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm đã lấy đất của bà rồi chia cho tất cả mọi người.

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Kháng cáo của bà Lê Thị T1 gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, bà T1 đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên yêu cầu kháng cáo là hợp lệ, được giải quyết theo trình tự phúc thẩm

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt cụ T, bà Lê Thị G, bà Lê Thị V, chị Phạm Thị H1, chị Lê Thị D, anh Lê Văn D1, chị Lê Thị D2, anh Lê Văn T3 dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; anh D3, chị T4 đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; bà M, ông R1 vắng mặt đã có văn bản ủy quyền cho bà V, bà N tham gia tố tụng. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

[2.1] Về thời hiệu mở thừa kế:

Cụ Lê Văn L chết ngày 01/8/1986 không để lại di chúc, di sản để lại là đất ở, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản. Theo khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 20/8/1998 và tiểu mục 1.5 mục 1 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ T6 được tính lại từ ngày 10/9/1990 (ngày Pháp lệnh thừa kế năm 1990 có hiệu lực). Tính đến ngày 14/10/2022, cụ Ngô Thị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lê Văn L thì thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết. Tuy nhiên, đến thời điểm Toà án sơ thẩm ban hành bản án, các đương sự không đều không đề nghị áp dụng thời hiệu chia thừa kế, vì vậy Toà án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

[2.2] Về hàng thừa kế:

Cụ Lê Văn L và cụ Ngô Thị T là vợ chồng hợp pháp, sinh được 09 người con, gồm: Ông Lê Đình C, ông Lê Đình R, bà Lê Thị G, ông Lê Văn Q, bà Lê Thị M, bà Lê Thị T1, bà Lê Thị V, ông Lê Văn M1, ông Lê Xuân B. Trong đó, ông Lê Văn M1 (chết ngày 11/7/2004), có vợ là bà Trần Thị G1 và 04 người con là chị Lê Thị D, anh Lê Văn D1, chị Lê Thị D2, anh Lê Văn T3; ông Lê Xuân B (chết ngày 15/6/2020), có vợ là bà Lê Thị T1 và 02 người con là anh Lê Đại D3 và chị Lê Thị Hồng T4. Ngoài ra hai cụ không có riêng, con nuôi. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lê Văn L gồm: cụ T, ông C, ông R, bà Lê Thị T1 (sinh năm 1961), bà Lê Thị G, bà Lê Thị M, ông Lê Văn Q, bà Lê Thị V, vợ và các con của ông Lê Văn M1, vợ và các con của ông Lê Văn B1 là có căn cứ.

[2.3] Về di sản thừa kế:

Ngày 12/11/1996, cụ T được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 74, số seri H583954 đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ 01 có diện tích 525m² trong đó 400m² là đất T và 125m² là đất vườn tạp. Ngày 09/9/2011, cụ Ngô Thị T lập di chúc cho con trai là ông Lê Xuân B và vợ ông B là bà Lê Thị T1 một phần thửa đất với diện tích là 395m² (trong đó có 289m² đất T và 106m² đất vườn tạp). Năm 2012, vợ chồng ông B, bà T1 đã xây dựng nhà ở và công trình phụ trợ trên một phần đất này. Tuy nhiên vợ chồng ông B, bà T1 và cụ T không đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất, không điều chỉnh lại thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hiện tại toàn bộ thửa đất vẫn mang tên chủ sử dụng là cụ Ngô Thị T. Đến ngày 17/8/2022, cụ T lập văn bản hủy di chúc có sự chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Đ, đây là văn bản có giá trị pháp lý, như vậy di chúc ngày 09/9/2011 do cụ T đã lập không còn hiệu lực. Cụ T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ L đối với thửa đất số 360 tờ bản đồ số 01 có diện tích 525m², đất T có diện tích là 400m², đất vườn tạp có diện tích là 125m², được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 74, số seri H583954, cấp ngày 12/11/1996 mang tên cụ Ngô Thị T. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, thửa đất trên có diện tích sử dụng là 559,7m² trong đó có 400m² là đất ở và 159,7m2 là đất vườn, chính quyền địa phương xác định diện tích đất tăng là do sai số trong đo đạc.

Xét nguồn gốc thửa đất có từ khi lập tờ bản đồ năm 1996, được tách ra từ thửa đất số 331, tờ bản đồ 01 bản đồ địa chính1990 tại thôn H, xã Đ, huyện T có diện tích 890m² mang tên cụ Lê Văn L. Phần còn lại lập thành thửa 361, tờ bản đồ 01 mang tên ông Lê Văn M1 cũng đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp đại trà vào năm 1996. Như vậy, sau khi cụ L mất thì cụ T đã tách một phần đất cho con trai là ông Lê Văn M1, ông M1 sử dụng cho đến khi ông M1 chết thì bà G vợ ông M1 đã chuyển nhượng cho cháu ruột ông M1 là anh Lê Đức T2 (cháu nội của cụ T). Việc chuyển nhượng chỉ trong nội bộ gia đình, chưa thực hiện thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai. Tại thời điểm cụ T tách đất, một phần thửa đất mang tên anh Lê Đức T2 thì cụ L đã chết nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định rõ diện tích đất mang tên anh T2 thuộc quyền sử dụng của ai và còn là di sản thừa kế không mà chỉ xác định di sản thừa kế của cụ L là diện tích 525m². Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, những người được chia thừa kế di sản của cụ L không ai có ý kiến về vấn đề này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của cụ T đối với thửa đất số 360, xác định ½ thửa đất là tài sản riêng của cụ T, ½ thửa đất là di sản thừa kế của cụ L là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm khi chia di sản thừa kế của cụ L cũng đã xem xét đến công sức, hiện trạng xây dựng và nhu cầu sử dụng của các đương sự, phần diện tích chia cho bị đơn đồng thời là người kháng cáo - bà Lê Thị T1 đã đảm bảo quyền lợi cho bà T1 và đúng pháp luật, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân các cấp tại phiên tòa. Bị đơn kháng cáo đề nghị Tòa án xác định phần diện tích đất đã được cụ T lập di chúc không còn là di sản thừa kế vì cụ đã lập di chúc cho bị đơn có sự chứng kiến của 09 đồng thừa kế, không có ý kiến về các di sản khác.

[2.4] Các yêu cầu kháng cáo bổ sung của bà T1 không nằm trong phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết.

[3] Từ những phân tích, đánh giá trên đây, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của Bị đơn - bà Lê Thị T1, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên bà Lê Thị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Lê Thị T1 đã hoàn thành nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự:

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị T1.

[2] Giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Lê Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng bà T1 đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000342 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Thúy Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 44/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị T - Lê Thị T1 "Tranh chấp về thừa kế tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger