Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/DS-ST

Ngày: 07 - 6 - 2024

V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thí và bà Hoàng Thị Thoan.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Bá Tuấn Linh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Phương Nhung, Kiểm sát viên Trung cấp.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 100/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-DS, ngày 07 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 128/2024/QĐST-DS ngày 07/5/2024 giữa, các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N; địa chỉ: A đường T, quận H, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D, Chủ tịch HĐQT; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Anh L, Trưởng phòng khách hàng bán lẻ; địa chỉ: Số A đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình (theo Giấy ủy quyến số 634/UQ-VCB.QB-HCNS ngày 27/12/2021), có mặt;

Bị đơn: Ông Trần Quang S, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Võ Thị T, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (đã chết).
  • + Anh Trần Anh Q, địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt có đơn xin xét xử văng mặt;
  • + Anh Trần Thế A, địa chỉ: Tiểu khu B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị T1, địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  • + Anh Trần Phi L1, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  • + Anh Trần Thế V, địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 18/11/2015, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 đã ký Hợp đồng cho vay bán lẻ số 1225/2015/NHNT với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T, vay số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay để thanh toán tiền sửa chữa nhà ở; thời hạn cho vay là 60 tháng, lãi suất cho vay là 11,5%/năm, lãi suất điều chỉnh 3 tháng/lần kể từ ngày rút vốn đầu tiên và được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 130%/năm. Trong quá trình vay, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã trả 190.006.275 đồng tiền gốc, dư nợ đến ngày 07/6/2024 là: Nợ gốc 139.993.275 đồng, nợ lãi 63.853.701 đồng (lãi trong hạn 49.339.898 đồng, lãi quá hạn 14.513.803 đồng). Tổng dư nợ là: 203.846.976 đồng.

Ngày 14/11/2017, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 600/2017/VCBQB với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T, vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay để mua xe máy; thời hạn cho vay là 120 tháng; lãi suất cho vay là 11%/năm, lãi suất quá hạn là 150%/năm. Trong quá trình vay, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã trả 8.250.000 đồng tiền gốc, dư nợ đến ngày 07/6/2024 là: Nợ gốc 21.750.000 đồng; nợ lãi 9.696.276 đồng (lãi trong hạn 8.606.326 đồng, lãi quá hạn,1.089.950 đồng). Tổng dư nợ là 31.446.276 đồng.

Ngày 22/12/2017, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 690/2017/VCBQB với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T, vay số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay để mua trang thiết bị nội thất; thời hạn cho vay là 120 tháng; lãi suất cho vay là 11%/năm. Bằng lãi suất VND kỳ hạn 12 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân của VCB cộng (+) 4,5% nhưng không thấp hơn sàn lãi suất quy định trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 150%/năm. Trong quá trình vay, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã trả 11.000.000 đồng tiền gốc, dư nợ đến ngày 07/6/2024 là: Nợ gốc 29.000.000 đồng; nợ lãi 12.610.340 đồng (lãi trong hạn 11.251.126 đồng, lãi quá hạn 1.359.214 đồng). Tổng dư nợ là: 41.610.340 đồng.

Tính đến thời điểm xét xử, tổng dư nợ gốc và lãi, lãi phạt các khoản vay của ông Trần Quang S và bà Võ Thị T tại Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 là: 276.903.592 đồng. Trong đó, nợ gốc 190.743.275 đồng, nợ lãi trong hạn 69.197.350 đồng; nợ lãi quá hạn 16.962.967 đồng.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho cho các khoản vay của mình, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã thế chấp Quyền sử dụng đất và nhà ở thuộc thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, với diện tích đất 203,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00205, do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/06/2012 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 1225/2015/VCB.QB ngày 18/11/2015 được ký giữa Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 và ông Trần Quang S và bà Võ Thị T.

Trong quá trình vay vốn tại Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1, ông Trần Quang S để xảy ra tình trạng nợ quá hạn, từ giữa tháng 11/2020 đến nay không thực hiện trả nợ gốc, lãi theo đúng quy định, thiếu ý thức hợp tác trả nợ, không bàn giao tài sản thế chấp

3

để Ngân hàng xử lý nợ theo qui định. Toàn bộ dư nợ đã chuyển sang nợ quá hạn, nợ xấu; trong thời gian này Ngân hàng đã thực hiện các thông báo nợ vay đến hạn, quá hạn theo đúng quy định của Nhà nước nhưng ông S vẫn không thanh toán các khoản nợ vay.

Để đảm bảo việc thu hồi nợ vay, Ngân hàng TMCP N đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử buộc ông Trần Quang S phải thanh toán số tiền còn lại cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm, tổng dư nợ gốc và lãi của ông Trần Quang S và bà Võ Thị T là 276.903.592 đồng, trong đó nợ gốc 190.743.275 đồng và nợ lãi 86.160.317 đồng (lãi trong hạn 69.197.350 đồng, lãi quá hạn 16.962.967 đồng) và toàn bộ các khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh cho đến khi ông Trần Quang S thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo các hợp đồng tín dụng nêu trên.

Trường hợp ông Trần Quang S không thực hiện hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ vay theo Hợp đồng thế chấp đã ký gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất và nhà ở thuộc thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2, địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, với diện tích đất 203,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00205, do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/06/2012 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 1225/2015/VCB.QB ngày 18/11/2015 được ký giữa Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 10/02/2023 cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trần Quang S trình bày:

Ông S nhất trí như ý kiến trình bày của đại diện của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, Ông còn nợ tổng nợ gốc và lãi là 276.903.592 đồng, trong đó nợ gốc 190.743.275 đồng và nợ lãi 86.160.317 đồng (lãi trong hạn 69.197.350 đồng, lãi quá hạn 16.962.967 đồng). Để đảm bảo khoản vay, vợ chồng Ông đã thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất và nhà ở thuộc thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2 tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, với diện tích đất 203,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 00205 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/06/2012 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 1225/2015/VCB.QB ngày 18/11/2015 được ký giữa Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1.

Do điều kiện kinh tế gia đình của Ông đang gặp khó khăn, chưa trả được gốc và lãi cho Ngân hàng, nên phát sinh nợ quá hạn. Ông có nguyện vọng đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho Ông thêm một năm để Ông trả xong khoản vay thế chấp sổ lương hưu, sau đó vay lại để trả cho Ngân hàng. Vợ ông bà Võ Thị T đã chết vào năm 2020, Ông đề nghị đưa các con ông là Trần Anh Q, địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Trần Thế A, địa chỉ: Tiểu khu A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Trần Thị T1, địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, cháu Trần Phi L1, Trần Thế V (là con của Trần Thanh H chết vào năm 2016) vào tham gia tố tụng.

Ý kiến của những người có liên quan anh Trần Thế A tại biên bản lấy lời khai ngày 26/4/2022, chị Trần Thị T1 tại bản tự khai ngày 03/3/2023 và anh Trần Anh Q tại biên bản lấy lời khai ngày 26/4/2022 (là con đẻ của ông Trần Quang S và bà Võ Thị T) trình bày:

4

Bố, mẹ của A, Chị vay tại Ngân hàng không thông báo cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết, hiện nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho bố Trần Quang S trả dần, nếu không trả được thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP N, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất là tài sản thế chấp tại Ngân hàng.

Kết quả:

* Về đất: Thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2, diện tích 203,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 00205 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/06/2012; hiện nay theo bản đồ chính quy là thửa đất 1705, tờ bản đồ số 9, diện tích 223,4m², có tứ cận:

  • - Phía Đông giáp với đường giao thông, kích thước 10,49m;
  • - Phía Tây giáp với thửa đất 216 của ông Nguyễn Viết T2 có kích thước 8,69m;
  • - Phía Nam giáp với thửa đất 1746 có kích thước 22,13m;
  • - Phía Bắc giáp với đất của bà Nguyễn Thị G có kích thước 6,49m + 6,31m; giáp đất bà Trương Thị L2 có kích thước 6,88m + 4,83m.

Diện tích thực tế sử dụng 223,4m², lớn hơn 19,9m² so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 13/06/2012. Đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp.

* Về nhà: Trên đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4, nhà ống có gác lửng, mái lợp tôn dài 16,5m, rộng 4,8m, sảnh 2,5m, gồm 02 phòng ngủ, 01 phòng khách, 01 bếp, 01 gác lửng, 01 nhà vệ sinh, tường rào bao quanh, cổng bằng sắt Ø27, trong hàn lưới B40. Giàn mát lợp tôn, đà bằng sắt sơn chống rỉ, cột giàn mát bằng sắt Ø110, có ¼ mái lợp bằng phibro ximăng, nền sân láng bằng vữa xi măng. Trên thửa đất không có tài sản của người khác.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xét xử buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc, lãi đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 07/6/2024) theo các hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết số tiền là 276.903.592 đồng, trong đó nợ gốc 190.743.275 đồng, nợ lãi 86.160.317 đồng (lãi trong hạn 69.197.350 đồng, lãi quá hạn 16.962.967 đồng). Bị đơn đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để bị đơn có thời gian vay mượn trả nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu ý kiến như sau:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 317, 318, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Quang S phải trả cho Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/6/2024 số tiền là 276.903.592 đồng, trong đó nợ gốc 190.743.275 đồng và nợ lãi 86.160.317 đồng (lãi trong hạn 69.197.350 đồng, lãi quá hạn 16.962.967 đồng). Trường hợp ông Trần Quang S không trả đủ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản đã thế

5

chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất và nhà ở thuộc thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2 tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 00205 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/06/2012 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 1225/2015/VCB.QB ngày 18/11/2015 được ký giữa Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 với ông Trần Quang S, bà Võ Thị T.

+ Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

+ Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng để trả lại cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đang ở nước ngoài. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết theo Quyết định chuyển hồ sơ của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh ngày 27/6/2023 là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc vắng mặt của anh Trần Phi L1 và anh Trần Thế V, theo Công văn số 15478/QLXNC-P5 ngày 15/6/2023 của Cục Q2 - Bộ C thì anh Trần Phi L1 và anh Trần Thế V đã xuất cảnh ra nước ngoài và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tòa án đã tiến hành đăng tin qua kênh phát thanh đối ngoại giành cho người Việt Nam ở nước ngoài, không nhận được tin tức của anh L1, anh V. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Trần Thị T1, anh Trần Thế A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, anh Trần Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 tiến hành xét xử vắng mặt chị T1, anh Q, anh A.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Trần Quang S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời khai của nguyên đơn, lời thừa nhận của bị đơn và các chứng cứ tài liệu khác, xác định được giữa Ngân hàng TMCP N và ông Trần Quang S có ký ba hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Ngày 18/11/2015, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 đã ký Hợp đồng cho vay bán lẻ số 1225/2015/NHNT với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T, vay số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay để thanh toán tiền sửa chữa nhà ở; thời hạn cho vay là 60 tháng, lãi suất cho vay là 11,5%/năm, lãi suất điều chỉnh 3 tháng/lần kể từ ngày rút vốn đầu tiên và được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 130%/năm. Trong quá trình vay, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã trả 190.006.275 đồng tiền gốc, dư nợ đến ngày 07/6/2024 là: Nợ gốc 139.993.275 đồng, nợ lãi 63.853.701 đồng (lãi trong hạn 49.339.898 đồng, lãi quá hạn 14.513.803 đồng). Tổng dư nợ là: 203.846.976 đồng.

6

Ngày 14/11/2017, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 600/2017/VCBQB với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T, vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay để mua xe máy; thời hạn cho vay là 120 tháng; lãi suất cho vay là 11%/năm, lãi suất quá hạn là 150%/năm. Trong quá trình vay, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã trả 8.250.000 đồng tiền gốc, dư nợ đến ngày 07/6/2024 là: Nợ gốc 21.750.000 đồng; nợ lãi 9.696.276 đồng (lãi trong hạn 8.606.326 đồng, lãi quá hạn,1.089.950 đồng). Tổng dư nợ là 31.446.276 đồng.

Ngày 22/12/2017, Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1 đã ký Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 690/2017/VCBQB với ông Trần Quang S và bà Võ Thị T, vay số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng chẵn), mục đích vay để mua trang thiết bị nội thất; thời hạn cho vay là 120 tháng; lãi suất cho vay là 11%/năm. Bằng lãi suất VND kỳ hạn 12 tháng của sản phẩm tiết kiệm lĩnh lãi cuối kỳ đối với khách hàng cá nhân của VCB cộng (+) 4,5% nhưng không thấp hơn sàn lãi suất quy định trong từng thời kỳ, lãi suất quá hạn là 150%/năm. Trong quá trình vay, ông Trần Quang S và bà Võ Thị T đã trả 11.000.000 đồng tiền gốc, dư nợ đến ngày 07/6/2024 là: Nợ gốc 29.000.000 đồng; nợ lãi 12.610.340 đồng (lãi trong hạn 11.251.126 đồng, lãi quá hạn 1.359.214 đồng). Tổng dư nợ là: 41.610.340 đồng.

Phía bị đơn ông Trần Quang S thừa nhận có nợ khoản tiền gốc, lãi như Ngân hàng trình bày. Vì vậy, việc Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu ông S thanh toán khoản tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn nói trên là có căn cứ.

Như vậy, tổng các khoản tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, ông Trần Quang S phải trả cho Ngân hàng N đến ngày xét xử sơ thẩm là: 276.903.592 đồng, trong đó nợ gốc 190.743.275 đồng và nợ lãi 86.160.317 đồng (lãi trong hạn 69.197.350 đồng, lãi quá hạn 16.962.967 đồng).

[2.2]. Về tài sản bảo đảm: Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo cho khoản vay tín dụng của bị đơn, các bên đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất tại thửa đất và nhà ở thuộc thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2 tại địa chỉ thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, với diện tích đất 203,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH 00205 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/06/2012 tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số 1225/2015/VCB.QB ngày 18/11/2015 được ký giữa Ngân hàng TMCP N - Chi nhánh Q1, được công chứng ngày 18/11/2015 tại Văn phòng Công chứng Kiến Giang, địa chỉ số A đường Q, tiểu khu D, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Như vậy, việc ông Trần Quang S và bà Võ Thị T tự mình thực hiện việc thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đúng quy định của pháp luật. Các chủ thể ký kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái pháp luật, tài sản thế chấp được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng thế chấp phù hợp pháp luật về cả hình thức và nội dung. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng về việc trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo việc thi hành án là có căn cứ.

Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa 1010, tờ bản đồ số 2, địa chỉ thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình có diện tích thực tế sử dụng là 223,4m², lớn hơn diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy, khi thực hiện xử lý tài sản thì theo hiện trạng sử dụng đất.

7

[3]. Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

[4]. Về chi phí xem xét thẩm định và chi phí khác: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định. Nguyên đơn đã nộp tạm chi phí xem xét thẩm định, vì vậy buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu các chi phí tố tụng khác.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 180, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 3 Điều 474, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 119, 317, 318, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 13, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án; án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N đối với ông Trần Quang S, buộc ông Trần Quang S phải trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 07/6/2024 là 276.903.592 đồng, trong đó nợ gốc 190.743.275 đồng và nợ lãi 86.160.317 đồng (lãi trong hạn 69.197.350 đồng, lãi quá hạn 16.962.967 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 76 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông Trần Quang S không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp số 1225/2015/VCB.QB ngày 18/11/2015 giữa ông Trần Quang SNgân hàng TMCP N chi nhánh Q1, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất và nhà ở thuộc thửa đất số 1010, tờ bản đồ số 2, có diện tích thực tế sử dụng là 223,4m² tại địa chỉ
  1. Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 638465, số vào số cấp giấy chứng nhận: CH 00205 do UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/6/2012.
  2. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Quang S phải chịu chi phí tố tụng 2.500.000 đồng, trong đó 1.500.000 đồng đăng VOV5 và 1.000.000 đồng chi phí thẩm định tài sản. Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên buộc ông Trần Quang S phải trả cho Ngân hàng CP N 2.500.000 đồng.
  3. Về án phí: Ông Trần Quang S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 13.845.179 đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N 5.745.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Biên lai số 31AA/2021/0003983 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị T1, anh Trần Anh Q, anh Trần Thế A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Phi L1 và anh Trần Thế V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/6/2024)./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
  • - TAND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ; VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 44/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án xét xử vụ án TCHĐTD giữa Ngân hàng Ngoại thương và ông Trần Quang S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger