Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/KDTM-ST

Ngày: 20/6/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

Dịch vụ

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Minh Tuấn;
  2. Ông Vương Đình Quang.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung – Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm không tham gia phiên tòa.

Ngày 20/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 66/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp phát sinh từ HĐ dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-KDTM ngày 25/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2024/QĐST-HPT ngày 09/5/2024; Thông báo lịch xét xử ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH A1. Địa chỉ: : Số A, ngõ F, đường T, Phường Q, Quận T, Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Đại diện theo pháp luật: Ông BENJAMIN RÉMI VIALE - chức vụ Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Châu Minh T. Địa chỉ: P, E6, phường T, quận T, Hà Nội. Ông Nguyễn Quốc T1. Địa chỉ: Số A, đường E, khu phố C, phường B, TP T, TP Hồ Chí Minh (ông T có mặt).

- Bị đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN K1. Địa chỉ trụ sở chính: B6-BT5, Khu đô thị M, phường M, quận N, Hà Nội. Đại diện theo pháp luật bởi Ông Nguyễn Việt C - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức T2 – Trưởng phòng pháp chế. Địa chỉ: Căn hộ B R, khu đô thị G, phường P, quận B, Hà Nội. Bà Trần Thị Thu P – Chuyên viên pháp chế. Địa chỉ: Số B, ngách F, N, Khu G, thị trấn V, huyện T, Hà Nội. (Theo Giấy ủy quyền số 154/2023 ngày 10/11/2023) (Ông T2, bà P có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại Đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/11/2019, AREP và KOSY đã thỏa thuận và ký Hợp đồng số 17/HĐTV-AREP về việc cung cấp dịch vụ tư vấn lập ý tưởng quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu đô thị M tại xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (“Hợp đồng”), với tổng giá trị là 1.972.000.000 VNĐ (Một tỷ chín trăm bảy mươi hai triệu Đồng Việt Nam). Căn cứ theo Hợp Đồng, KOSY, với tư cách là Chủ đầu tư, đã thuê AREP, với tư cách là Nhà thầu tư vấn, cho mục đích nghiên cứu và lập ý tưởng quy hoạch chi tiết khu đô thị M tại xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Nhằm thực hiện Hợp đồng, AREP đã nỗ lực để tiến hành các công việc nêu tại Hợp đồng một cách thiện chí. Tại Biên bản cuộc họp giữa các Bên ngày 08/6/2020, KOSY đã ký xác nhận kết thúc Giai đoạn 1 liên quan đến việc “Lập hai phương án ý tưởng quy hoạch sơ bộ - 06 tuần làm việc” (như quy định tại Điểm a, Điều 3.3 của Hợp đồng). Bên cạnh đó, KOSY cũng chấp nhận lựa chọn phương án thiết kế số 3 trong số những phương án thiết kế do AREP trình để tiếp tục thực hiện ở Giai đoạn 2.

Ngày 22/7/2020, AREP đã tiến hành bàn giao Hồ sơ thiết kế ý tưởng quy hoạch 1/500 Khu đô thị K đã được thống nhất trong cuộc họp ngày 08/6/2020 cho KOSY. Việc bàn giao này đã được Đại diện hợp pháp của AREP và KOSY ký xác nhận tại Biên bản bàn giao hồ sơ đề ngày 22/7/2020.

Như vậy, AREP đã hoàn thành khối lượng công việc của Giai đoạn 1 tương đương 30% giá trị Hợp đồng, và đã phát hành và gửi đầy đủ Hồ sơ yêu cầu thanh toán đối với Đ 2 theo Điều 5.4 của Hợp đồng cho KOSY vào ngày 30/7/2020. Căn cứ vào Điều 5.4 của Hợp Đồng, KOSY có nghĩa vụ phải thanh toán cho AREP số tiền thanh toán Đợt 2, tức 30% giá trị Hợp đồng, tương đương 591.600.000 VNĐ (Năm trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm ngàn Đồng Việt Nam) không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày KOSY nhận đủ Hồ sơ yêu cầu thanh toán.

Tính đến thời điểm hiện tại, mặc dù AREP đã gửi các Công văn đến KOSY nhắc nhở về việc thanh toán, cụ thể là Công văn đề ngày 25/8/2021 và Công văn ngày 03/01/2023, KOSY vẫn không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào của mình đối với AREP.

Nay, xét thấy KOSY không ngừng vi phạm nghĩa vụ thanh toán của mình đối với AREP, và không có dấu hiệu hay hành động thực tế nào để khắc phục vi phạm của mình, AREP buộc phải khởi kiện KOSY ra Toà án có thẩm quyền nhằm giải quyết dứt điểm tranh chấp giữa AREP và KOSY.

AREP đã hoàn thành các trách nhiệm liên quan đến vai trò và công việc tư vấn của AREP, theo đúng với Điều 3 về Mô tả dự án, Phạm vi công việc và Tiến độ thực hiện Hợp đồng của Hợp đồng.

Điều 5.2 và 5.4 của Hợp đồng đã quy định lần lượt về “Giá trị hợp đồng” và “Tiến độ thanh toán” để AREP và KOSY theo dõi, giám sát và đánh giá tiến độ phải thanh toán các khoản đến hạn của KOSY; và KOSY có nghĩa vụ phải thanh toán phí dịch vụ tư vấn cho AREP theo Điều 5.2 và 5.4 của Hợp đồng.

Căn cứ theo Điều 85.1 của Luật Thương mại năm 2005 quy định về “Nghĩa vụ của khách hàng” đối với Q và nghĩa cụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ, theo đó khách hàng có nghĩa vụ sau đây: “Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng”. Cũng theo Điều 518.3 và Điều 519.1 của Bộ Luật dân sự 2015, thì Bên cung ứng dịch vụ (tức AREP trong trường hợp này) có quyền “Yêu cầu bên sử dụng dịch vụ trả tiền dịch vụ”; và “Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận.”.

Bên cạnh đó, Điều 306 của Luật Thương mại 2005 cũng quy định “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”.

Theo đó, AREP yêu cầu áp dụng lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường của 03 (ba) Ngân hàng thương mại là Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A2), Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1), và Ngân hàng thương mại cổ phần N (“N1”), để tính tiền lãi chậm trả trên khoản tiền 591.600.000 VNĐ (Năm trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm ngàn Đồng Việt Nam) cho khoảng thời gian từ 14/8/2020 đến 28/2/2023. Do thời gian chậm trả khoản nợ gốc là 02 (hai) năm, 06 (sáu) tháng, 14 (mười bốn) ngày, và AREP áp dụng mức lãi suất cho vay tối thiểu trung dài hạn của A2 là 12,0%/năm, lãi suất cho vay cơ sở trung dài hạn của S1 là 10,4%/năm và lãi suất cơ sở chuẩn trung hạn của N1 là 12,2 %/năm, để tính ra lãi suất trong hạn trung bình trên thị trường là 11,2%/năm. Từ đó, lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường sẽ bằng 150% lãi suất trong hạn trung bình trên thị trường, tương đương 16,8%/năm.

Bằng cách áp dụng lãi suất quá hạn 16,8%/năm đối với khoản nợ gốc 591.600.000 VNĐ (Năm trăm chín mươi mốt triệu sáu trăm ngàn Đồng Việt Nam) cho khoảng thời gian chậm thanh toán của KOSY cho đến nay, KOSY có nghĩa vụ phải thanh toán tiền lãi chậm trả bằng 252.337.120 VNĐ (Hai trăm năm mươi hai triệu, ba trăm ba mươi bảy ngàn, một trăm hai mươi Đồng Việt Nam) cho AREP.

Từ những trình bày trên và căn cứ theo Điều 317 của Luật Thương mại 2005 về giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án, Điều 30.1, Điều 35.1 và Điều 39.1 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, AREP đề nghị Tòa án Nhân dân Quận Nam Từ Liêm, TP . giải quyết tranh chấp thương mại giữa AREP và KOSY, ra quyết định buộc KOSY thanh toán cho AREP tổng số tiền 843.937.120 VNĐ (Tám trăm bốn mươi ba triệu, chín trăm ba mươi bảy ngàn, một trăm hai mươi Đồng Việt Nam), bao gồm:

Khoản tiền gốc phí dịch vụ là 591.600.000 VNĐ (Năm trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm ngàn Đồng Việt Nam);

Tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tạm tính đến ngày 28/02/2023 (với mức lãi suất 16,8%/năm) là 252.337.120 VNĐ (Hai trăm năm mươi hai triệu, ba trăm ba mươi bảy ngàn, một trăm hai mươi Đồng Việt Nam).

Công ty Cổ phần K1 phải thanh toán cho Công ty TNHH A1 một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ được tiếp tục tính theo quy định của pháp luật.

Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:

Thừa nhận vào ngày 29/11/2019 AREP và KOSY có thỏa thuận ký hợp đồng số 17-AZ-TTC-AZ về việc cung ứng dịch vụ lập ý tưởng, quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 khu đô thị M tại xã T, TP H. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền là 591.600.000 VND là giá trị tạm ứng tương đương 30% giá trị hợp đồng đã nhận để đảm bảo thực hiện hợp đồng thì bị đơn cho rằng không đúng với các lý do sau:

- Tại điều 418 Luật Dân sự quy định: " (1) Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. (2) Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. (3) Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bôi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm"

Trong hợp đồng tư vấn đã ký, tại Điều 15 Hợp đồng, hai bên chỉ thỏa thuận phạt lỗi vi phạm/ngày nhưng tổng mức phạt tối đa: "Tổng giá trị mức phạt không vượt quá 8% giá trị vi phạm Hợp đồng" và không có nội dung thỏa thuận về việc bồi thường.

- Do đó, việc nguyên đơn viện dẫn quy định pháp luật thương mại trong lĩnh vực xây dựng là áp dụng không đúng quy định pháp luật. Trong khi Hợp đồng, hai bên không thỏa thuận về chế định bồi thường, chỉ thỏa thuận về chế tài "phạt vi phạm tối đa 8% giá trị vi phạm" nên yêu cầu bồi thường với khoản phạt lãi trả chậm cho khoản tiền chậm thanh toán của K là hoàn toàn không có cơ sở. Hơn nữa, xét về tính chất tài chính của dòng tiền lưu thông trong hợp đồng dịch vụ này thì bên A đã cầm giữ trước khoản tiền được nhận tương đương 30% giá trị thanh toán hoàn thành công việc nên hoàn toàn không có hậu quả xảy ra trên thực tế.

Kết luận: Chúng tôi phản đối, không chấp thuận toàn bộ nội dung "Yêu cầu khởi kiện" của Nguyên đơn. Trong tình trạng khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng hiện tại, một lần nữa đề nghị phía nguyên đơn đánh giá lại toàn bộ nội dung diễn biến của quá trình thực hiện Hợp đồng và các nội dung công việc thực tế AREP đã triển khai, cũng như xem xét hoàn cảnh thực tế của K khi chúng tôi đã phải trả khoản tiền không nhỏ với toàn bộ kết quả tư vấn AREP cung cấp cho K nhưng lại không khai thác được bất kỳ lợi ích, hiệu suất kinh tế nào từ sản phẩm tư vấn này, nhưng nhận thức đầy đủ trách nhiệm khi đã ký kết Hợp đồng, chúng tôi cố gắng thực hiện Hợp đồng với A.

Ngày 26/01/2024, Công ty K1 có đơn yêu cầu phản tố với nội dung:

+ Đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty A1 hoàn trả 30% tiền tạm ứng đã nhận là 591.600.000 đồng.

+ Đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty A1 thực hiện nghĩa vụ phạt vi phạm do tự bỏ dở công việc theo quy định hợp đồng tại điểm b, K14.1 và điều 15 Hợp đồng, Giá trị phạt vi phạm là 110.432.000 đồng.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn: vẫn giữ nguyên yêu cầu và đề nghị bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc là 591.600.000 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tính từ ngày chậm thanh toán đến ngày 20/6/2024 là: 284.022.460 đồng. Như vậy tổng số tiền bị đơn phải thanh toán là 875.622.460 đồng.

Bị đơn: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và giữ nguyên yêu cầu phản tố: Đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty Al hoàn trả 30% tiền tạm ứng đã nhận là 591.600.000 đồng; Đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty A1 thực hiện nghĩa vụ phạt vi phạm do tự bỏ dở công việc theo quy định hợp đồng tại điểm b, K14.1 và điều 15 Hợp đồng, Giá trị phạt vi phạm là 110.432.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận theo quy định tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là CÔNG TY CỔ PHẦN K1. Địa chỉ trụ sở chính: B6-BT5, Khu đô thị M, phường M, quận N, Hà Nội. Vì vậy việc Công ty TNHH A1 khởi kiện vụ án ra Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội là đúng quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1]Về tài liệu, chứng cứ:

Theo các tài liệu nguyên đơn cung cấp được thể hiện: Ngày 29/11/2019, AREP và KOSY đã thỏa thuận và ký Hợp đồng số 17/HĐTV-AREP về việc cung cấp dịch vụ tư vấn lập ý tưởng quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu đô thị M tại xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình (“Hợp đồng”), với tổng giá trị là 1.972.000.000 VNĐ (Một tỷ chín trăm bảy mươi hai triệu Đồng Việt Nam).

Ngày 22/7/2020, AREP đã tiến hành bàn giao Hồ sơ thiết kế ý tưởng quy hoạch 1/500 Khu đô thị K đã được thống nhất trong cuộc họp ngày 08/6/2020 cho KOSY. Việc bàn giao này đã được Đại diện hợp pháp của AREP và KOSY ký xác nhận tại Biên bản bàn giao hồ sơ đề ngày 22/7/2020.

Như vậy, AREP đã hoàn thành khối lượng công việc của Giai đoạn 1 tương đương 30% giá trị Hợp đồng, và đã phát hành và gửi đầy đủ Hồ sơ yêu cầu thanh toán đối với Đợt 2 theo Điều 5.4 của Hợp đồng cho KOSY vào ngày 30/7/2020. Căn cứ vào Điều 5.4 của Hợp Đồng. Như vậy Công ty CP K1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho AREP số tiền thanh toán Đợt 2, tức 30% giá trị Hợp đồng, tương đương 591.600.000 VNĐ (Năm trăm chín mươi mốt triệu, sáu trăm ngàn Đồng Việt Nam) không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày KOSY nhận đủ Hồ sơ yêu cầu thanh toán. Yêu cầu đòi 30% giá trị Hợp đồng của K là có căn cứ, được chấp nhận.

+ Xét yêu cầu phản tố của bị đơn :

Vào ngày 30/3/2020, K có thanh toán cho A số tiền tạm ứng là 591.600.000 VND. Đến ngày 30/07/2020 nguyên đơn có thư đề nghị thanh toán số tiền trên. Đến ngày 22/07/2020 biên bản bàn giao hồ sơ. Như vậy, công việc của giai đoạn 1 đã hoàn thành đối trừ số tiền tạm ứng cũng như số tiền nguyên đơn thực hiện hợp đồng cho bị đơn là bằng nhau. Vì tại điều 5 của hợp đồng quy định về giá hợp đồng và thanh toán:

“5.1 Hình thức hợp đồng: Trọn gói: đã bao gồm toàn bộ chi phí để bên B thực hiện tất cả công việc nêu tại Hợp đồng này; chi phí ăn ở, đi lại của các chuyên gia/ nhân lực bên B; chi phí in ấn tài liệu, báo cáo; chi phí dịch thuật, công chứng tài liệu (nếu có); chi phí, phí, lệ phí khác (nếu có) liên quan đến việc thực hiện công việc và thực hiện hợp đồng này

Giá hợp đồng này không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện Hợp đồng, ngoại trừ những điều kiện theo Điều 8 và là căn cứ để thanh lý quyết toán hợp đồng

5.2 Giá trị hợp đồng: Giá trị hợp đồng này là 1.972.000.000 đồng đã bao gồm thuế Giá trị gia tăng

5.3 Đồng tiền và hình thức thanh toán

Mọi khoản thanh toán của Bên A cho Bên B sẽ được thực hiện bằng Việt Nam đồng (VND) bằng hình thức chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của Bên B theo giá trị tương ứng của mỗi lần thanh toán.

5.4 Tiến độ thanh toán

Đợt thanh toánTỷ lệ %Chi tiếtGiá trị thanh toán (chưa thuế)VATGiá trị sau thuế
Đợt 130%Tạm ứng trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày hai bên ký kết hợp đồng và Bên A nhận đủ hồ sơ thanh toán của Bên B537.818.18253.781.818591.600.000
Đợt 230%Sau khi kết thúc giai đoạn 1 và không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày bên A nhận đủ hồ sơ thanh toán537.818.18253.781.818591.600.000
Đợt 330%Sau khi bên B báo cáo lần 1 giai đoạn 2 trước cơ quan có thẩm quyền và không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày bên A nhận đủ hồ sơ thanh toán của bên B537.818.18253.781.818591.600.000
Đợt 410Sau khi nhiệm vụ quy hoạch của Dự án được phê duyệt hoặc Bảo lãnh thực hiện Hợp đồng hết hạn và không quá 10 ngày sau khi bên B phát hành hồ sơ thanh toán179.271.72717.927.273197.200.000
Tổng100%1.792.727.27179.272.721.972.000.0

Như vậy, tiếp tục giai đoạn 2 của hợp đồng không được với lý do: sau khi hoàn thành công việc của giai đoạn 1: “lập hai phương án ý tưởng quy hoạch sơ bộ và bàn giao sản phẩm có liên quan” thì đến giai đoạn 2 không có bất kì một thông báo hay quyết định nào của Cơ quan có Thẩm quyền phê duyệt nên công việc không thể tiếp tục được. Ngoài ra, tại phiên tòa hôm nay các nguyên đơn và bị đơn đều không xuất trình được bất kì tài liệu nào để chứng minh công việc của giai đoạn 2 tiếp tục được thực hiện.

Hội đồng xét xử thấy: đối với số tiền 591.600.000 VND bị đơn đã tạm ứng phù hợp với số tiền nguyên đơn hoàn thành giai đoạn 1 theo hợp đồng:

“Ngày 29/11/2019, AREP và KOSY đã thỏa thuận và ký Hợp đồng số 17/HĐTV-AREP về việc cung cấp dịch vụ tư vấn lập ý tưởng quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu đô thị M tại xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”.

Như vậy, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn về số tiền thực hiện giai đoạn 2 tương ứng với 30% giá trị HĐ là 591.600.000 đồng bằng với số tiền bị đơn đã thực hiện tạm ứng cho nguyên đơn là 591.600.000 đồng ngày 30/3/2020. Vì vậy đối trừ nghĩa vụ cho nhau, nên các bên không phải thanh toán cho nhau số tiền trên.

Về số tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ do nguyên đơn yêu cầu do bị đơn chậm thanh toán là 284.022.460 đồng: do số tiền thực hiện giai đoạn 2 đã được đối trừ đối với số tiền tạm ứng nên HĐXX không chấp nhận tiền lãi chậm thực hiên nghĩa vụ do nguyên đơn yêu cầu.

Đối với số tiền phạt vi phạm 110.432.000 đồng mà bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán. HDXX thấy rằng, số tiền 591.600.000 đồng đã được đối trừ nên sẽ bằng không. Do vậy, số tiền vi phạm theo yêu cầu của bị đơn không có căn cứ nên không được HDXX chấp nhận.

Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải tiếp tục thực hiện HĐ với nguyên đơn của bị đơn: tại phiên tòa các bên đều thừa nhận chưa nhận được bất kì thông báo về việc ý tưởng của dự án có được phê duyệt hay không nên dành quyền khởi kiện cho các bên nếu có tranh chấp bằng một vụ án khác.

Như vậy: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán giai đoan 2: 591.600.000 đồng và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu đối trừ nghĩa vụ thanh toán theo số tiền tạm ứng 591.690.000 đồng.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần lãi chậm thanh toán 591.600.000 đồng và Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về phần phạt vi phạm thực hiện Hợp đồng.

Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí về phần yêu cầu không được chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 30; điểm b, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39; khoản 1, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 319 Luật thương mại.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội năm 2016.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A1 về việc yêu cầu Công ty CP K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán giai đoạn 2 theo Hợp đồng số 17/HĐTV-AREP ngày 29/11/2019, số tiền: 591.600.000 đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty CP K1 về việc yêu cầu Công ty TNHH A1 hoàn trả 30% tạm ứng đã nhận là 591.690.000 đồng.

Đối trừ nghĩa vụ cho nhau, các bên không phải thanh toán cho nhau số tiền trên.

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A1 về việc yêu cầu Công ty CP K1 phải chịu phần lãi chậm thanh toán 284.022.460 đồng.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty CP K1 về việc yêu cầu Công ty TNHH A1 phải chịu số tiền vi phạm thực hiện Hợp đồng: 110.432.000 đồng.

Về yêu cầu buộc Công ty CP K1 phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng với Công ty TNHH A1: Do các bên đều thừa nhận chưa nhận được bất kì thông báo về việc ý tưởng của dự án có được phê duyệt hay không nên dành quyền khởi kiện cho các bên nếu có tranh chấp bằng một vụ án khác.

  1. Về án phí:

+ Công ty TNHH A1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 14.201.123 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Công ty TNHH A1 đã nộp: 18.660.000 đồng theo Biên lai số BLTU/23 0009002 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Công ty TNHH A1 được trả lại: 4.458.877 đồng.

+ Công ty CP K1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm 5.521.600 đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí Công ty CP K1 đã nộp: 16.040.000 đồng theo Biên lai số BLTU/23 0009369 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm. Công ty CP K1 được trả lại: 10.518.400 đồng.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND Q.Nam Từ Liêm;

- VKSND thành phố Hà Nội;

- TAND thành phố Hà Nội;

- Chi cục THADS Q.Nam Từ Liêm;

- Lưu HS - VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/KDTM-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 44/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH A1 kiện Công ty Cổ phần K1 về việc " “Tranh chấp phát sinh từ HĐ dịch vụ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger