|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HSST Ngày: 26/09/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Trinh; bà Trần Thị Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2024/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXHSST – HS, ngày 12 tháng 09 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn D; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 20 tháng 03 năm 1985, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; đảng, phái: Đảng viên Đ sinh hoạt tại Chi bộ thôn T, xã K, huyện K (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 103 – QĐ/UBKTHU ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy K); nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông: Lê Văn M và bà: Nguyễn Thị Ủ; anh em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; có vợ: Trần Thị T và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 18/07/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Trọng T1;
sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ H, phường H, Quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Cao Thị T2, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà.
- - Chị Võ Thị O, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; có mặt tại phiên toà.
- - Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 05/6/2024, Lê Văn D có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp, điều khiển xe ô tô tải có trọng tải 3990Kg, biển kiểm soát 38H-007.84 của mình, xuất phát từ nhà, ở xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh lưu thông trên đường Q theo hướng Nam ra B để đi ra thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Lê Văn D điều khiển xe ô tô nói trên đi đến Km 547+400, Quốc lộ A, nơi có khoảng hở của giải phân cách cố định, có vạch giảm tốc độ và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, thuộc địa phận thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, phát hiện phía trước, bên phần đường bên trái ngược chiều có xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879, do anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1966, trú tại thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh điều khiển đang đi ở làn đường xe cơ giới (Làn đường sát với giải phân cách cố định) đang đi đến để chuyển hướng sang phần đường bên phải, tính theo chiều xe ô tô Duẩn chạy. Mặc dù phát hiện có người điều khiển xe mô tô chuẩn bị chuyển hướng nhưng Lê Văn D vẫn không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn. Khi xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84 do D điều khiển đi vào gần đến khoảng hở của giải phân cách cố định thì cùng lúc này xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879, do anh Nguyễn Thế V điều khiển cũng đi vào điểm đầu của khoảng hở giải phân cách cố định, nên anh V chuyển hướng sang trái (S phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 38H-007.84 chạy) để đi ra hướng Bắc thì xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84 do Lê Văn D cũng vừa đi tới, Lê Văn D đánh lái sang phải để tránh nhưng không kịp, nên phía trước xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84 do Lê Văn D điều khiển đã đâm ngang vào phía bên phải phần thân xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879 do anh V điều khiển, làm cho người và xe mô tô ngã xuống mặt đường. Điểm va chạm giữa xe ô tô với xe mô tô ở trên làn đường xe cơ giới số 2 (làn đường sát với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ) và ngay trên vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường phía bên phải (tính theo chiều xe ô tô 38H-007.84 chạy). Hậu quả vụ tai nạn làm anh Nguyễn Thế V bị chết sau khi đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe mô tô biển kiểm soát 38H7-4543 bị hư hỏng thiệt hại 2.500.000 đồng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K lập hồi 15 giờ 25 phút ngày 05/6/2024 phản ánh: vụ tai nạn xảy ra ở Km 547+400 đường Q, nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có gờ giảm tốc độ và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, thuộc địa phận thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, giữa xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84 với xe mô tô biển kiểm soát 38H7-4543. Mặt đường Quốc Lộ A được rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có giải phân cách cứng cố định. Phần đường bên phải theo hướng xe ô tô 38H-007.84 chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,50m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe ô tô 38H-007.84 chạy trên mặt đường có gờ giảm tốc độ và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường. Khoảng hở của dải phân cách cố định có chiều rộng 36,5m.
Đánh số thứ tự các dấu vết: (1) Vết trượt xước; (2) Vết cày; (3) xe ô tô biển kiểm soát 38H-00784; (4) xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879; (5) vết máu.
Xác định mốc cố định: Lấy cột mốc Km 547+400 theo chiều N ra B làm điểm mốc và lấy mép đường Q phía bên phải làm điểm chuẩn, tất cả đều tính theo hướng từ N ra B, các dấu vết để lại hiện trường như sau:
Mô tả dấu vết hiện trường: Trên phần đường bên phải theo chiều xe ô tô 38H-007.84 chạy có cụm gờ giảm tốc độ và vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, đầu cụm gờ giảm tốc độ cách cột mốc Km 547+400 về hướng Bắc là 16m. Cách cột mốc Km 547+400 về hướng Bắc 60m là điểm đầu vết trượt lốp (1), đầu vết trượt cách mép đường nhựa bên phải 4,0m và nằm ngay trên vạch sơn người đi bộ qua đường, kéo dài 16,5m, điểm cuối nằm dưới bánh sau bên trái xe ô tô 38C-007.84 liên quan đến tai nạn, cuối vết trượt lốp vào mép đường nhựa bên phải 2,0m. Cách điểm đầu vết trượt lốp (1) về hướng Bắc 2,1m là điểm đầu vết cày mặt đường (2), đầu vết cày cách mép đường nhựa bên phải 2,9m kéo dài 14,4m, điểm cuối nằm dưới gầm xe mô tô 61S4-7879 liên quan đến tai nạn và vào mép đường nhựa bên phải 3,7m. Xe ô tô (3) đậu trên lề đường đất phía bên phải đầu hướng ra B, đuôi hướng vào N, trục bánh trước vào mép đường nhựa bên phải 2,7m, trục bánh sau vào mép đường nhựa bên phải 2,0m. Xe mô tô (4) ngã nghiêng về phía bên trái nằm trên lề đường đất và ngay phía trước đầu xe ô tô 38H-007.84, trục bánh sau vào mép đường nhựa bên phải 3,7m. Cách trục bánh sau xe mô tô 61S4-7879 về hướng Bắc 2,2m là vết máu (5) có kích thước 0,2mx0,2cm, tâm vết máu vào mép đường nhựa bên phải 4,9m. Khoảng hở của dải phân cách cố định có chiều rộng 36,5m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
- + Tại biên bản khám xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:
Kính chắn gió phía trước có dấu vết nứt vỡ, kích thước 132cmx70cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 155cm; cần gạt nước phía trước bên trái bị gãy bung rời khỏi vị trí ban đầu; góc bên trái nắp ca bô phía trước có dấu vết móp lõm, trượt xước, kích thước 48cmx40cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, cách mép bên phải đầu xe 117cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 01 mét; phần bên phải nắp ca bô phía trước (vị trí trên lô gô) có dấy vết trượt xước, móp lõm, mất sơn, kích thước 39cmx24cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, từ trái qua phải, tâm dấu vết cách mép bên phải đầu xe 73cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 105cm; lưới tản nhiệt phía trước bị bung rời các chốt định vị, góc bên phải có dấu vết nứt vỡ, kích thước 28cmx06cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 71cm; cụm đèn phía trước bên trái có dấu vết gãy vỡ, kích thước 32cmx24cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 71,5cm; góc bên phải của ba đờ xốc phía trước có dấu vết trượt xước, móp lõm, kích thước 27cmx25cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mép bên phải đầu xe 55cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 40cm; biển kiểm soát phía trước có dấu vết cong vênh, ốp nhựa nứt vỡ, kích thước 20cmx19cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mép bên phải đầu xe 90cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 43cm; phần bên trái ba đờ xốc phía trước (phía bên trái biển kiểm soát) có dấu vết trượt xước, rách, kích thước 40cmx23cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau, tâm dấu vết cách mép bên phải đầu xe 117cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 41cm; góc bên trái ba đờ xốc phía trước có dấu vết trượt xước, in hằn, kích thước 33cmx26cm, chiều hướng dấu vết từ trước ra sau. T3 dấu vết cao cách mặt đất 42cm.
- + Tại biên bản khám xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879 liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:
Cung trước chắn bùn phía trước có dấu vết nứt vỡ, kích thước 19cmx09cm, tâm dấu vết cao cách mặt đất 62cm; ốp giảm xóc phía trước bên phải bị gãy bung rời khỏi phương tiện; mặt ngoài giảm xóc phía trước bên phải có dấu vết bám dính chất màu đen, kích thước 23cmx03cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 45cm; cung sau chắn bùn bánh trước có dấu vết nứt vỡ, trượt xước, kích thước 34cmx18cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 45cm; ốp mặt nạ phía trước có dấu vết gãy vỡ, kích thước 32cmx17cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 85cm; ốp tay lái phía trước, cụm đèn phía trước bị gãy bung rời khỏi phương tiện; bảng điều khiển bị gãy bung rời khỏi vị trí ban đầu; tay lái phía bên trái bị xô lệch, chiều hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau. Mặt ngoài có dấu vết mài mòn, trượt xước, kích thước 17cmx06cm theo chiều hướng từ trái qua phải. T3 dấu vết cao cách mặt đất 68cm; cánh ướm phía bên phải bị gãy bung rời khỏi phương tiện; cánh ướm phía bên trái bị bung rời các chốt định vị, mặt ngoài có dấu vết trượt xước, nứt vỡ, kích thước 58cmx15cm; tay phanh phía bên phải có dấu vết gãy vỡ, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), kích thước 1,9x01cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 103,5 cm; tay lái phía bên phải bị xô lệch theo chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái. Đầu mút tay lái có dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh, đen, kích thước 04x2,6cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 107,5cm; bàn đạp phanh bị xô lệch, chiều hướng từ phải qua trái, từ trước ra sau; bàn đạp chân phía trước bên phải bị xô lệch, chiều hướng từ phải qua trái, đầu mút bàn đạp chân có dấu vết bám dính chất màu đen, kích thước 02cmx 1,8cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 32,5cm; ốp nhựa phía bên phải lốc máy có dấu vết nứt vỡ, kích thước 12,5cmx10cm. T3 dấu vết cao cách mặt đất 27cm. bàn đạp chân phía trước bên trái bị bung rời ốp cao su, lõi sắt bị xô lệch, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải. Mặt ngoài có dấu vết bám dính bùn đất, kích thước 14cmx1,5cm; bàn đạp chân phía sau bên trái bị gãy bung rời khỏi phương tiện; bàn đạp chân phía sau bên phải bị gãy bung rời khỏi phương tiện; ốp thân xe phía bên phải bị gãy bung rời khỏi phương tiện; mặt bên trái yên xe có dấu vết mài mòn, trượt xước, kích thước 30cmx07cm, chiều hướng từ trái qua phải. T3 dấu vết cao cách mặt đất 68cm; phần bên trái tay nâng phía sau có dấu vết mài mòn, trượt xước, kích thước 34cmx04cm, chiều hướng từ trái qua phải. T3 dấu vết cao cách mặt đất 64cm; giảm xóc phía bên phải bị xô lệch, chiều hướng từ phải qua trái. Lõi kim loại của giảm xóc bị bung rời khỏi vị trí cố định; mặt ngoài ống xả có dấu vết móp lõm, trượt xước, kích thước 12cmx 06cm, chiều hướng dấu vết từ phải qua trái. T3 dấu vết cao cách mặt đất 24cm; cung sau chắn bùn bánh sau, cụm đèn phía sau bị gãy bung rời khỏi phương tiện.
Kết luận điểm va chạm: Theo kết luận giám định số 827/KL-KTHS, ngày 17/06/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Xe ô tô tải mang biển kiểm soát 38H-007.84 và xe mô tô mang biển kiểm soát 61S4-7879 có va chạm với nhau. Nắp ca bô phía trước (vị trí phía trên lô gô) xe ô tô tải va chạm với tay lái phía bên phải và tay phanh phía bên phải xe mô tô. Phần bên phải ba đờ xốc phía trước xe ô tô tải va chạm với giảm xóc phía trước bên phải xe mô tô. Biển kiểm soát phía trước, phần bên trái ba đờ xốc phía trước (vị trí phía bên trái biển kiểm soát) xe ô tô tải va chạm với cánh yếm bên phải, bàn đạp chân phía trước bên phải xe mô tô. Góc bên trái ba đờ xốc phía trước xe ô tô tải va chạm với bàn đạp chân phía sau bên phải, giảm xóc phía sau bên phải, ống xả xe mô tô. Hai phương tiện va chạm theo chiều vuông góc với nhau. Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải mang biển kiểm soát 38H-007.84 và xe mô tô mang biển kiểm soát 61S4-7879 nằm trên làn đường thứ hai (Tính từ mép đường chuẩn) thuộc phần đường phía bên phải đường Q theo chiều đi từ N ra B.
Kết quả khám nghiệm tử thi:
Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 05/6/2024 và Bản kết luận giám định Pháp Y số 825/KL-KTHS ngày 17 tháng 06 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Hà kết luận: Bị hại Nguyễn Thế V chết do đa chấn thương.
Kết quả định giá thiệt hại tài sản:
Tại kết luận số 41/KL-HĐĐG, ngày 09/07/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84, bị thiệt hại 7.950.000 đồng.
Tại kết luận định số 42/KL-HĐĐG, ngày 12/07/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 38H7-4543 thiệt hại 2.500.000 đồng.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy:
- - Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 16 giờ 33 phút 40 giây ngày 05/06/2024 xác định: nồng độ cồn của Lê Văn D tại thời điểm kiểm tra là 0,000/L khí thở.
- - Tại biên bản kiểm tra về ma túy vào hồi 16 giờ 40 phút ngày 05/06/2024, xác định Lê Văn D, âm tính với các chất ma túy.
- - Tại phiếu xét nghiệm kết quả về việc xác định tình trạng nồng độ cồn của Bệnh viện đa khoa tỉnh H vào hồi 17 giờ 17 phút ngày 05/06/2024, xác định nồng độ cồn trong mẫu máu thu từ tử thi ông Nguyễn Thế V tại thời điểm xét nghiệm cho kết quả 133,2 mg/dl (tham chiếu 50>).
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện K đã thu giữ xử lý vật chứng cụ thể:
- - 01 xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84, đã qua sử dụng; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, biển kiểm soát 38H-007.84; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỷ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô 38H-007.84, thu của Lê Văn D, nay đã trả lại cho chủ sở hữu Lê Văn D.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu SWEET, biển kiểm soát 61S4-7879, thu tại hiện trường nay đã trả lại cho đại diện người bị hại là anh Nguyễn Trọng T1;
- - 01 giấy phép lái xe số [...], hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 07/10/2018 mang tên Lê Văn D, nay chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Lê Văn D và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 180.000.000 đồng. Nay người đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT- VKSKA ngày 09 tháng 09 năm 2024, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lê Văn D mức án từ 60 triệu đến 70 triệu đồng tiền do Ngân hàng N1 phát hành.
- - Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Lê Văn D 01 giấy phép lái xe số [...], hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 07/10/2018 mang tên Lê Văn D.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc bị cáo Lê Văn D phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện tạo thu nhập, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Lê Văn D điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là người nguy hiểm cao độ, khi qua nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có gờ giảm tốc độ và có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường, đã không giảm tốc độ, nhường đường để đảm bảo an toàn khi có người điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua đường, nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879 do anh Nguyễn Thế V đang điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua đường theo hướng từ trái sang phải theo hướng đi của D, trên làn đường xe cơ giới thứ hai của phần đường bên phải (tính theo hướng từ N ra B) đã vi phạm khoản 1, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Hậu quả anh Nguyễn Thế V bị chết; xe ô tô biển kiểm soát 38H-007.84 bị hư hỏng thiệt hại 7.950.000 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 61S4-7879 bị hư hỏng thiệt hại 2.500.000 đ. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Lê Văn D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.
[3] Trong vụ án này, nguyên nhân của vụ tai nạn lỗi trực tiếp thuộc về Lê Văn D không giảm tốc độ khi qua nơi có gờ giảm tốc độ và có vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường dẫn đến gây ra vụ tai nạn. Lỗi một phần thuộc về nạn nhân Nguyễn Thế V không chú ý quan sát để chuyển hướng đảm bảo an toàn.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn D được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác (được Chủ tịch UBND tỉnh H tặng bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “nông dân sản xuất kinh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” giai đoạn 2017-2022); Gia đình bị cáo có công với cách mạng (bố đẻ là thương bệnh binh hạng 4/4, được nhà nước tăng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, huy hiệu vì nghĩa vụ quốc tế); đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây hại cho xã hội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền là hình phạt chính đối với Lê Văn D cũng đảm bảo nghiêm minh.
[7] Về dân sự: Hiện nay, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu thêm gì về dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
[8] Vật chứng vụ án:
- - Các phương tiện giao thông đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 01 giấy phép lái xe số [...], hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 07/10/2018 mang tên Lê Văn D, nay chuyển theo hồ sơ vụ án, căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần trả lại cho Lê Văn D là phù hợp.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s, v khoản 1, 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Về hình phạt chính: Xử phạt Lê Văn D 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) tiền do Ngân hàng N1 phát hành.
- Về vật chứng vụ án: Trả lại cho bị cáo Lê Văn D 01 giấy phép lái xe số [...], hạng B2 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 07/10/2018 mang tên Lê Văn D. (Giấy phép kèm theo hồ sơ vụ án).
- Về án phí: Xử buộc Lê Văn D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 44/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 44/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn D phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
