Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HSST

Ngày: 20-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Huy.

Ông Trần Văn Xuân.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Ông Nguyễn Tùng Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Văn H, sinh ngày: 01/01/1990.

Nơi thường trú: không có; Nơi tạm trú:A đường H, Phường A, quận T, Tp .; Nơi ở hiện tại: không có nơi ở ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T và bà Châu N (đều đã chết); Bản thân chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: 01. Bản án số: 203/2022/HS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Tp . xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2023 chưa xóa án tích. Nhân thân: Ngày 24/5/2004, bị Chủ tịch lâm thời Ủy ban nhân dân quận B, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng thời gian 24 tháng về hành vi “Cướp giật”, đã chấp hành xong ngày 30/4/2006; Ngày 23/11/2007, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp . xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 12/4/2008, đã được xóa án tích; Ngày 20/5/2009, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp . xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2012, đã được xóa án tích;

Ngày 27/12/2013, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Tp. xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/8/2017, đã được xóa án tích; Ngày 20/8/2019, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Tp. áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 30/11/2020. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Võ Thị Anh T1, sinh năm: 1968 (vắng mặt).

Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thái V, sinh năm: 1979 (vắng mặt).

Cư trú: 48/6 đường T, phường P, quân T, Tp ..

Tạm trú: Ấp A, xã V, huyện B, Tp ..

Người làm chứng:

1/ Nguyễn Hữu T2, sinh năm: 2004 (vắng mặt).

Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

2/ Nguyễn Thái D, sinh năm: 2004 (vắng mặt).

Cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 01/01/2024, Nguyễn Thái V điều khiển xe mô tô loại Dream, màu nâu, biển số 61B2-281.64 đi đến đường B, phường B, quận B, Tp gặp Đỗ Văn H. Lúc này, V rủ H cùng đi tìm thuê nhà trọ cho V, Hòa đồng ý. Sau đó, V điều khiển xe mô tô trên chở H đến khu vực huyện B, Tp . và huyện C, tỉnh Long An để tìm nhà trọ. Đến khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, khi V chở H đến đường hẽm khu dân cư thuộc ấp L, xã L, huyện C thì H phát hiện bà Võ Thị Anh T1 đang đứng ở giữa đường hẻm trên cổ có đeo 01 (một) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng vàng, nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền để bán lấy tiền tiêu xài, cá nhân. Khi V điều khiển xe mô tô đến gần sát phía sau lưng của bà T1. Lúc này, H đưa tay trái ra giật lấy sợi dây chuyền nhưng không được, mà móng tay của H xước trên bả vai của bà T1. Sau đó, bà T1 truy hô “Cướp, C” nhưng V vẫn điều khiển xe chạy bình thường. Đi được khoảng 50m thì bị lực lượng Công an xã L đang tuần tra, cùng người dân phát hiện bắt giữ nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và mời V, H về trụ sở làm việc.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 02/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền kiểu dây ép bằng vàng 60,39%, trọng lượng 1,916 chỉ (tính luôn cả mặt dây chuyền), có giá trị là 7.510.720 đồng (Bảy triệu năm trăm mười ngàn bảy trăm hai mươi đồng).

Tại Bản cáo trạng số 47/CT-VKSCG ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đỗ Văn H từ 04 năm đến 05 năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Trách nhiệm dân sự: bị hại Võ Thị Anh T1 đã nhận lại tài sản, hiện không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Dream, màu nâu, biển số: 61B2-281.64 do Nguyễn Thái V giao nộp, nhưng chưa cung cấp giấy tờ hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra chuyển sang Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý. Đối với 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài 48 cm và mặt dây chuyền hình bông mai có đính đá màu trắng do bà Võ Thị Anh T1 giao nộp, do là tài sản hợp pháp của bà T1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà T1, là phù hợp.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 01/01/2024, Nguyễn Thái V điều khiển xe mô tô chở Đỗ Văn H đi tìm nhà trọ để V thuê. Khi đi đến đường hẽm thuộc khu dân cư thuộc ấp L, xã L, huyện C, thì H ngồi phía sau xe phát hiện bà Võ Thị Anh T1 đang đứng ở giữa đường hẽm của khu dân cư, trên cổ có đeo sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng vàng 60,39%, trọng lượng 1,916 chỉ, trị giá 7.510.720 đồng, nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt sợi dây chuyền. Khi V điều khiển xe mô tô đến gần sát phía sau lưng của bà T1. Lúc này, H đưa tay trái ra giật lấy sợi dây chuyền nhưng không được, làm xước bả vai của bà T1, bà T1 truy hô nhưng V vẫn điều khiển xe chạy bình thường, thì bị lực lượng Công an xã L đang tuần tra, cùng người dân phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo H đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.

[3] Đối với Nguyễn Thái V mặc dù điều khiển xe mô tô chở H, nhưng không biết được H có hành vi cướp giật và sau khi H thực hiện hành vi cướp giật (không thành) thì V vẫn điều khiển xe mô tô bình thường không có dấu hiệu tăng ga tẩu thoát, thể hiện qua lời khai của hai người làm chứng là anh Nguyễn Hữu T2, Nguyễn Thái D và đoạn video clip trích xuất từ camera. Tại phiên tòa bị cáo H cũng khai nhận việc cướp giật là do bị cáo thực hiện không có bàn bạc với V, nên V không đồng phạm với bị cáo H về tội “Cướp giật tài sản”. Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý V, là phù hợp.

[4] Về định khung hình phạt đối với bị cáo H: mặc dù V là người điều khiển xe mô tô và không đồng phạm với bị cáo H, như đã phân tích tại phần [3], nhưng việc bị cáo H ngồi phía sau xe mô tô đang chạy và thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo H cũng thừa nhận hành vi ngồi trên xe mô tô thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại đang đứng trên đường là nguy hiểm đến sức khỏe của bị hại. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo H thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có 01 tiền án, theo Bản án số: 203/2022/HS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Tp . xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/4/2023, chưa xóa án tích, đến ngày 01/01/2024 lại tiếp tục phạm tội “Cướp giật tài sản”, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự và là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Xét về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: có một tiền án về tội “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có” như đã phân tích tại phần [6]; ba lần bị tòa án đưa ra xét xử về tội “Cướp tài sản” (các năm 2007, 2009 và 2013), một lần bị đưa đi trường giáo dưỡng về hành vi “Cướp giật” và một lần bị Tòa án đưa đi tập trung cai nghiện.

[9] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[10] Về tang vật thu giữ: đối với 01 (một) xe môtô hiệu Dream, màu nâu, biển số: 61B2-281.64 do Nguyễn Thái V giao nộp, nhưng chưa cung cấp giấy tờ hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra có Công văn số 154/CV.ĐTTH, ngày 24/4/2024 chuyển sang Công an huyện C tiếp tục xác minh, xử lý. Đối với 01 (một) sợi dây chuyền kiểu dây ép bằng kim loại màu vàng dài 48 cm và mặt dây chuyền hình bông mai có đính đá màu trắng do bà Võ Thị Anh T1 giao nộp, do là tài sản hợp pháp của bà T1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà T1, là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

[11] Trách nhiệm dân sự: bị hại Võ Thị Anh T1 đã nhận lại tài sản, tại phiên tòa vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 85 – 86) không yêu cầu, nên không xem xét.

[12] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Đỗ Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/01/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (20/5/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Long An;
  • -VKSND huyện Cần Giuộc;
  • -CA huyện Cần Giuộc;
  • -THADS huyện Cần Giuộc;
  • -Bị cáo; đương sự;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN ĐỨC BẢO

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Cần Giuộc, ngày 20 tháng 5 năm 2024

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 9 giờ 00 phút ngày 20 tháng 5 năm 2024.

Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Huy.

Ông Trần Văn Xuân.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS, ngày 06/5/2024 đối với bị cáo: Đỗ Văn Hòa.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ vào tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Hòa phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

2. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

3. Về hình phạt:

Xử phạt: Đỗ Văn Hòa 04 (bốn) măm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/01/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (20/5/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

4. Các vấn đề khác:

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 15 phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

NGUYỄN NGỌC HUY – TRẦN VĂN XUÂN

NGUYỄN ĐỨC BẢO

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HSST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 44/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn H phạm tội "Cướp giật tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger