Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024-HSST

Ngày 12-9-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Lê Thị Hường.

+ Ông Phạm Ngọc Minh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nhân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà

Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Văn D (Tên gọi khác: Đ), sinh ngày 24/9/1992, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ T, (đã chết) và bà Lê Thị I, sinh năm 1950; Chưa có vợ, con.

Tiền án: Tại Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 09-4-2021 của Toà án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt Võ Văn D 18 tháng tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày 09-4-2021 về tội “Cướp giật tài sản”. Đến ngày 15-10-2023, bị cáo D tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo.

Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo Võ Văn D đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Lê Thị I, sinh năm 1950 – Là mẹ ruột của bị cáo (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Văn P - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

- Bị hại:

  1. Ông Kiều T1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  2. Ông Từ Ngọc C, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  3. Bà Từ Thị T2, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  4. Bà Châu Thị T3, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  5. Ông Bá Văn N, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  6. Ông Kiều Đức T4, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  4. Ông Phạm Văn T7, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
  5. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Ngư Văn B, sinh năm 1948; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
  3. Ông Lê Khắc L, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Trần H, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).
  5. Bà Châu Thị H1, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Văn D là người đang chấp hành thời gian thử thách của án treo theo Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Ninh Phước, xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng kể từ ngày 09-4-2021 về tội “Cướp giật tài sản”. Nhưng trong khoảng thời gian từ ngày 15-10-2023 đến ngày 01-6-2024, bị cáo D đã thực hiện 06 lần trộm cắp tài sản trên địa bàn xã P, huyện N, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Buổi tối ngày 15-10-2023, lợi dụng lúc nhà ông Kiều T1 đang xây dựng, không có cửa cổng, rào chắn và người trông coi nên Võ Văn D đột nhập vào góc sân có mái che, nền xi măng lấy trộm 01 (một) máy cắt sắt loại cầm tay, hiệu Bosch, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) máy cắt sắt loại cầm tay, màu vàng, không rõ hiệu, đã qua sử dụng đem đi cất giấu tại một lùm cây thuộc thôn T. Sáng hôm sau, D đến lấy 02 (hai) chiếc máy cắt sắt và lén cất giấu trong tủ gỗ trước sân nhà anh Nguyễn Văn D1. Khoảng một tiếng sau, D quay lại lấy 01 (một) máy cắt sắt màu vàng bán cho anh Nguyễn Văn T5 với số tiền 100.000 đồng. Anh Nguyễn Văn T5 đã bán chiếc máy cắt sắt mua của D cho một người tên L1 chưa xác định được nhân thân lai lịch. Còn chiếc máy cắt sắt màu xanh không sử dụng được, D vẫn để lại ở tủ gỗ tại nhà anh D1, sau đó chị Lê Thị R (vợ anh D1) đã nộp chiếc máy cắt này cho Cơ quan Công an.

Bản Kết luận số 15/KLĐGTS-HĐĐG ngày 07-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, xác định: 01 (một) máy cắt sắt loại cầm tay, hiệu Bosch, màu xanh, đã qua sử dụng có giá 468.750 đồng và 01 (một) máy cắt sắt loại cầm tay, màu vàng, không rõ hiệu, đã qua sử dụng giá 200.000 đồng.

- Lần thứ hai: Vào tối ngày 22-10-2023, Võ Văn D tiếp tục đột nhập vào sân nhà ông Kiều T1 lấy 01 (một) chiếc xe rùa đã qua sử dụng để tại đống cát giữa sân rồi vào khu vực có mái che ở giữa sân để lấy tiếp 01 (một) kéo cắt sắt nhỏ, màu xanh đã qua sử dụng; 100 (một trăm) đai sắt, loại sắt 6, được uốn cong thành hình chữ nhật, kích thước (20x75)cm và 100 (một trăm) râu sắt, loại sắt 6, độ dài 50cm, tổng trọng lượng của số sắt trên là 39kg. Sau đó, D đem kéo cắt sắt và số sắt đã trộm cắp đặt lên xe rùa rồi đẩy đi cất giấu ở khu vực lùm cây gần nhà anh Nguyễn Văn D1. Tiếp theo D cầm kéo cắt sắt đã trộm cắp được đến nhà ông Ngư Văn B, dùng kéo cắt dây xích cửa cổng để vào nhà để trộm cắp tài sản nhưng bị ông B phát hiện nên D đã bỏ chạy và để lại cây kéo cắt sắt. Ông B đã giao nộp cây kéo cắt sắt cho Cơ quan công an. Đến sáng ngày 23-10-2023, D đến nơi cất giấu tài sản trộm cắp và đem số sắt đã trộm cắp bán cho chị Nguyễn Thị T6 là người thu mua phế liệu với số tiền 160.000 đồng; chiếc xe rùa Diên vẫn để lại nơi cất giấu. Chị Nguyễn Thị T6 đã bán số sắt mua của Diên cho cơ sở thu mua phế liệu, không thu hồi được.

Bản Kết luận số 15/KLĐGTS-HĐĐG ngày 07-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, xác định: 01 (một) chiếc xe rùa, đã qua sử dụng trị giá 343.750 đồng; 01 (một) kéo cắt sắt nhỏ, màu xanh đã qua sử dụng trị giá 187.500 đồng; 100 (một trăm) đai sắt, loại sắt 6, được uốn cong thành hình chữ nhật, kích thước (20x75)cm và 100 (một trăm) râu sắt, loại sắt 6, độ dài 50cm, tổng trọng lượng của số sắt trên là 39kg trị giá 569.236 đồng.

- Lần thứ ba: Vào đêm 03-11-2023 rạng sáng ngày 04-11-2024, lợi dụng nhà ông Từ Ngọc C không khóa cổng, Võ Văn D đột nhập vào lấy 01 (một) loa kéo di động màu đen, lưới màu vàng, hiệu WESTERN, đã qua sử dụng để trên thềm phía trước nhà. Diên đem chiếc loa đến cất giấu tại khu vực tập kết rác ở thôn H. Đến sáng ngày 04-11-2023, D quay lại nơi cất giấu đem chiếc loa đến bán cho anh Nguyễn Văn G với số tiền 500.000 đồng. Sau đó chị Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1994, vợ anh G) đã giao nộp chiếc loa mua của D cho Cơ quan Công an.

Bản Kết luận số 15/KLĐGTS-HĐĐG ngày 07-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, xác định: 01 (một) loa kéo di động màu đen, lưới màu vàng, hiệu WESTERN, đã qua sử dụng có giá 1.560.000 đồng.

- Lần thứ tư: Vào khoảng hơn 21 giờ, ngày 08-11-2023, Võ Văn D cầm 01 cục bê tông vào nhà ông Kiều T1 với mục đích đập, phá khoá để trộm cắp tài sản. Sau đó vì không cần sử dụng nên D đã để cục bê tông trên bàn rồi lấy trộm các tài sản gồm: 01 (một) kéo cắt sắt màu vàng, loại lớn, đã qua sử dụng; 01 (một) loa kéo di động màu đen, hiệu NANOMAX, đã qua sử dụng. Diên đem kéo cắt sắt cất giấu ở bãi cỏ gần khu vực nhà ông T1 rồi vác chiếc loa đến giấu vào thùng rác nơi tập kết rác ở thôn H, tiếp theo Diên quay lại nơi cất giấu chiếc xe rùa trong vụ trộm cắp thứ hai (vào tối ngày 22-10-2023 tại nhà ông T1), đẩy chiếc xe rùa đến khu vực tập kết rác bỏ vào thùng rác cùng với chiếc loa.

Đến sáng 09-11-2023, Võ Văn D quay lại nơi cất giấu thì phát hiện loa di động đã bị xe thu gom rác thuộc Công ty R1 nghiền nát; chiếc xe rùa và kéo cắt sắt màu vàng cũng đã thất lạc.

Bản Kết luận số 15-KLĐGTS-HĐĐG ngày 07-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, xác định: 01 (một) kéo cắt sắt màu vàng, loại lớn, đã qua sử dụng trị giá 108.000 đồng; 01 (một) loa kéo di động màu đen, hiệu NANOMAX, đã qua sử dụng trị giá 5.840.000 đồng.

- Lần thứ năm: Vào khoảng 23 giờ, ngày 10-12-2023, Võ Văn D đột nhập vào nhà bà Châu Thị T3 lấy tài sản trong phòng ngủ gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen loại bàn phím, một số phím bấm bị phai màu thành màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt. Khi bị người nhà phát hiện, D đã cầm tài sản chạy thoát.

Ngày hôm sau, D đã đem bán chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím, một số phím bấm bị phai màu thành màu trắng cho ông Phạm Văn T7 với số tiền là 100.000 đồng và bán chiếc điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung, màu đen, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt cho anh Nguyễn Văn C1 với giá 150.000 đồng. Còn chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím, đã qua sử dụng, D giữ lại cho bản thân. Sau đó ông T7, anh C1 và D đã giao nộp điện thoại lại cho Cơ quan Công an.

Bản Kết luận định giá số 16/KLĐGTS-HĐĐG ngày 08-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen loại bàn phím, một số phím bấm bị phai màu thành màu trắng, đã qua sử dụng có giá 100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím, đã qua sử dụng giá 640.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt có giá 800.000 đồng.

- Lần thứ sáu: Khoảng 01 giờ ngày 01-6-2024, Võ Văn D leo tường rào vào nhà ông Kiều Đức T8, rồi vào phòng ngủ của anh Kiều Đức T4, thấy cửa phòng không khóa và anh T4 đang ngủ nên D đã lấy 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 11F-5G, màu xanh-đen của anh T4 đang cắm sạc trên đầu giường. Khoảng 06 giờ cùng ngày, D đem chiếc điện thoại trên đến tiệm cà phê ở khu vực sân bóng thôn H tìm người bán, tuy nhiên chưa kịp tiêu thụ thì bị Cơ quan Công an phát hiện, đưa D về trụ sở để làm việc đồng thời thu giữ chiếc điện thoại.

Theo Kết luận định giá số 41/KLĐGTS-HĐĐG ngày 13-6-2024: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno 11F-5G, màu xanh-đen trị giá 8.400.623 đồng.

Ngoài ra, ông Từ Ngọc C khai còn bị mất 01 (một) bao gạo 25 kg, 02 (hai) đèn pin và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím, tuy nhiên bị cáo Võ Văn D không thừa nhận hành vi trộm cắp những tài sản trên, đồng thời không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý.

Ông Kiều T1 khai mất 02 cây sắt phi 12, mỗi cây dài khoảng 12m, nhưng sau đó ông xác nhận là tài sản trên không bị mất. Bà Châu Thị T3 khai mất 1.400.000 đồng nhưng sau đó bà xác định lại số tiền trên không bị mất.

Đối với số tài sản gồm 01 máy cắt sắt loại cầm tay màu vàng không rõ hiệu, đã qua sử dụng; 100 đai sắt, loại sắt 6, được uốn cong thành hình chữ nhật, kích thước (20x75)cm và 100 râu sắt, loại sắt 6, có độ dài 50cm, tổng trọng lượng của số sắt trên là 39kg; 01 chiếc xe rùa đã qua sử dụng; 01 kéo cắt sắt màu vàng, loại lớn, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả.

Quá trình điều tra nhận thấy đối tượng Võ Văn D có biểu hiện về bệnh tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với D. Ngày 02 tháng 4 năm 2024, V tại B, tỉnh Đồng Nai có Kết luận giám định pháp y tâm thần số: 219-KL-VPYTW, kết luận: Võ Văn D bị bệnh “Chậm phát triển tâm thần nhẹ”, bị “hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Qúa trình điều tra và truy tố bị cáo Võ Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và không kêu oan.

Tại Cáo trạng số 44/CT-VKS-HS ngày 06-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước đã truy tố Võ Văn D (Đ) về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến của phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn D (Đ), phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo như sau:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm q, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn D (Đỏ) từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự:

Tổng hợp 18 (Mười tám) tháng tù của Bản án số 22/2021/HSST, ngày 09-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận về tội “Cướp giật tài sản”. Buộc bị cáo Võ Văn D (Đ) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù đến 03 (Ba) năm tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật:

Bị cáo vắng mặt nên không trình bày tranh luận gì.

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Viện Kiểm sát đề nghị, để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo vắng mặt, nên không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Xét việc vắng mặt của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[3]. Về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo:

Xét lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản thực nghiệm điều tra cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử đủ cơ cở kết luận: Đây là vụ án “trộm cắp tài sản” do Võ Văn D thực hiện. Mặc dù đang trong thời gian thử thách của án treo, nhưng bị cáo là người bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên hay đi lang thang ở ngoài đường, ít khi về nhà. Trong khi đi lang thang từ ngày 15-10-2023 đến ngày 01-6-2024 bị cáo đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã P, huyện N. Giá trị tài sản lần lượt như sau: 668.750đ, 1.100.468đ, 1.560.000đ, 5.948.000đ, 1.540.000₫ và 8.400.623đ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 19.217.859₫.

Hành vi của bị cáo Võ Văn D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Xác định nguyên nhân, lỗi, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Nguyên nhân bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ bản tính tham lam, vì mọi việc ăn uống, chi tiêu hằng ngày của bị cáo là do mẹ bị cáo đảm nhận, số tiền bị cáo có khi bán tài sản trộm cắp, chủ yêu tiêu xài hết vào việc mua thuốc lá, đánh bi da, uống cà phê, không nhằm mục đích làm nguồn sống; hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; Tội phạm bị cáo thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm).

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi, thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7]. Về tiền án, tiền sự và nhân thân: Tại Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 09-4-2021 của Toà án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt Võ Văn D 18 tháng tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách 36 tháng về tội “Cướp giật tài sản”. Đáng lẽ ra, bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, nhưng vì bản tính tham lam, lười lao động, nên đã tiếp tục thực hiện 06 lần hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hội đồng xét xử thấy bị cáo chưa thực sự ăn năn hối cải, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết ăn năn hối cải cho bị cáo.

[8]. Quyết định hình phạt chính đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hơn nữa bản thân bị báo chưa chấp hành xong thời gian thử thách của án treo của Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 09-4-2021 của Toà án nhân dân huyện Ninh Phước, nhưng lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[9]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp. Nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp.

[10]. Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) máy cắt sắt loại cầm tay, hiệu Bosch, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) kéo cắt sắt màu xanh, loại nhỏ, đã qua sử dụng do chị Lê Thị R giao nộp (BL 324). Qua điều tra xác định tài sản trên thuộc sở hữu của ông Từ Công D2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho ông Từ Công D2, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • 01 (một) loa kéo di động màu đen, lưới màu vàng, hiệu WESTERN, đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị H2 giao nộp. Qua điều tra xác định tài sản trên thuộc sở hữu của ông Từ Ngọc C, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho ông Từ Ngọc C, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen loại bàn phím, một số phím bấm bị phai màu thành màu trắng, số CODE: 23KIG03VN00, số IMEI: 353120119080637, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu N1 màu đen loại bàn phím, số CODE: 23VEG75VN00, số IMEI 1: 357332567435611, số IMEI 2: 357332567935610, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 351162/004858/8, đã qua sử dụng, màn hình điện thoại có nhiều vết nứt thu giữ từ ông Phạm Văn T7, Nguyễn Văn C1 và từ Võ Văn D. Qua điều tra xác định những tài sản trên thuộc sở hữu của ông Bá Văn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho ông Bá Văn N, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO Reno11 F 5G, số IMEI 1: 860306075463737, số IMEI 2: 860306075463729, màu xanh - đen đã qua sử dụng từ Võ Văn D. Qua điều tra xác định tài sản trên là của anh Kiều Đức T4, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho anh Kiều Đức T4, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
  • 01 cục đá bằng bê tông có dạng hình bán nguyệt, bờ nham nhở, màu trắng, có kích thước dài 12 cm, rộng 05 cm và cao 09 cm thu giữ từ nhà ông Kiều T1. Đây là vật chứng của vụ án hiện nay đang tạm giữ tại Kho vật chứng Công an huyện N, nên tịch thu tiêu hủy.
  • 02 (hai) đoạn video được trích xuất từ camera an ninh do ông Kiều T1 và bà Châu Thị T3 giao nộp ghi lại diễn biến Võ Văn D đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trích sao vào đĩa DVD và đưa vào hồ sơ vụ án để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[11]. Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu về mặt dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[12]. Xét quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có cơ sở, nên chấp nhận.

[13]. Các vấn đề khác: Đối với những người đã có hành vi mua tài sản từ bị cáo Võ Văn D là Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thị T6, Nguyễn Văn G, Phạm Văn T7, Nguyễn Văn C1. Quá trình điều tra xác định những người mua không biết tài sản do bị cáo D trộm cắp mà có được, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thị T6, Nguyễn Văn G, Phạm Văn T7, Nguyễn Văn C1, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

[14]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Võ Văn D thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm q, s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn D (Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Võ Văn D (Đỏ) 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    - Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự:

    Tổng hợp 18 (Mười tám) tháng tù của Bản án số 22/2021/HS-ST ngày 09-4-2021 của Toà án nhân dân huyện Ninh Phước về tội “Cướp giật tài sản”. Buộc bị cáo Võ Văn D (Đ) phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) cục đá bằng bê tông có dạng hình bán nguyệt, bờ nham nhở, màu trắng, có kích thước dài 12cm, rộng 05 cm và cáo 09 cm, được niêm phong bằng hình thức dán giấy, bên ngoài có chữ ký của Tống H3, Kiều T1. (Niêm phong còn nguyên vẹn).

    Vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 09-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

    Bị cáo Võ Văn D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12-9-2024). Đối với bị cáo, các bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024-HSST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 44/2024-HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger