Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST.

Ngày: 10/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Tám.
  2. Ông Lê Văn Lâu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trần Thắng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 10/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST- HS ngày 29/3/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST- HS, ngày 22/4/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Tr, sinh năm: 1973, tại Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở hiện nay: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc : kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch : Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Lâm Thị T (chết); anh, chị em ruột có bảy người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; bị cáo có vợ là Phạm Thị Bích H sinh năm: 1977, đã ly hôn và có 01 con sinh năm: 2000.

Tiền sự, tiền án: không.

Nhân thân:

  • Ngày 20/3/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, đã chấp hành xong hình phạt và án phí.
  • Ngày 22/8/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 28/7/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cái Bè. (Bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị Bích H, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. ( có mặt).

Người chứng kiến:

  1. Ông Phan Văn B, sinh năm: 1953. ( vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1966. ( vắng mặt). Cùng cư trú tại: ấp 3, xã An Thái Tr, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
  3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1964. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. ( vắng mặt).
  4. Ông Võ Văn B, sinh năm: 1963. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Nguyễn Văn Tr là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 10 giờ ngày 14/7/2023, Tr sử dụng điện thoại hiệu Nokia loại phím nút của Tr điện thoại cho người tên Sơn ở thành phố Hồ Chí Minh (không họ, địa chỉ cụ thể) để mua ma túy với số tiền 7.000.000 đồng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Tr đi đến điểm hẹn ở gầm cầu Mỹ Thuận thuộc ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đưa tiền cho Sơn rồi lấy 01 gói ma túy cùng 06 đoạn ống thủy tinh uốn cong dạng phễu (nỏ) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa có gắn 01 nỏ và 01 đoạn ống nhựa), sau đó Tr đem về nhà cất giấu.

Đến khoảng 18 giờ ngày 14/7/2023, Tr lấy gói ma túy vừa mua sang chiết ra thành 32 gói ny lon chứa ma túy với kích thước khác nhau, rồi đem 32 gói ny lon chứa ma túy cùng 06 đoạn ống thủy tinh uốn cong dạng phễu (nỏ) và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đem cất giấu ở nhiều chỗ trong nhà của Phạm Thị Bích H (vợ Tr, đã ly hôn), sinh năm 1977, thường trú ấp X, xã Y, huyện Cái Bè Tr, nhà này Tr đang quản lý, sử dụng, cụ thể như sau: 02 gói ma túy để vào một gói giấy buộc bằng dây thun Tr cất vào túi trước bên phải quần jean có thêu chữ “DenimHXIN" treo trong phòng ngủ của Tr; 06 cái nỏ để vào hộp giấy buộc bằng dây thun cất trên bàn trong phòng ngủ của Tr; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 đoạn ống nhựa) để trong 01 bao ny lon để trên bàn khu vực nhà bếp; 02 gói ma túy để vào 01 hộp giấy quấn băng keo đen để vào 01 bao ny lon màu đen cất trong thùng nhựa ở khu vực nhà bếp; 08 gói ma túy để vào 01 hộp giấy quấn băng keo đen, để hộp giấy này và 01 gói ma túy vào bao ny lon màu đen, bên ngoài là bao ny lon màu hồng để trên nắp thùng nhựa ở khu vực nhà bếp; còn lại 19 gói ma túy Tr cất giấu trong vành nón kết màu đen của Tr. Trong thời gian cất giấu ma túy, Tr có lấy 02 gói ma túy từ vành nón ra sử dụng, không rõ thời gian cụ thể.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/7/2023, Nguyễn Văn Tr đội nón kết trên vành nón có 17 gói ma túy rồi điều khiển xe mô tô biển số 63B1-70768 của Tr đi từ nhà đến đậu xe phía trước nhà chị Nguyễn Thị M (chị ruột Tr), sinh năm 1960 ở tổ 6, ấp X, xã Y, huyện Cái Bè để đến vựa mít Tr Chiến cách đó khoảng 100 mét làm việc. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại đoạn đường trên Quốc lộ 30 phía trước nhà của chị Nguyễn Thị M có đối tượng sử

dụng trái phép chất ma túy, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cái Bè phối hợp với Công an xã An Thái Tr, huyện Cái Bè tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an đến Nguyễn Văn Tr bỏ chạy và lấy nón kết đang đội trên đầu ném xuống đất cách vị trí của Tr 0,5 mét. Qua kiểm tra nón kết và trên người phát hiện Tr đang tàng trữ trái phép 17 gói nylon chứa ma túy bên trong vành nón của Tr.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày 19/7/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Cái Bè phối hợp Công an xã Y tiến hành khám xét nhà của chị Phạm Thị Bích H (căn nhà do Tr đang quản lý, sử dụng), qua khám xét phát hiện Nguyễn Văn Tr đang tàng trữ trái phép 02 gói ma túy trong túi quần jean trong phòng ngủ của Tr; 02 gói ma túy trong thùng nhựa và 09 gói ma túy trên nắp thùng nhựa ở khu vực nhà bếp; đồng thời phát hiện Tr đang tàng trữ trái phép 06 đoạn ống thủy tinh uốn cong dạng phễu (nỏ) trong phòng ngủ và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 đoạn ống nhựa ở khu vực nhà bếp. Nguyễn Văn Tr thừa nhận toàn bộ số ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy (nỏ) Công an thu giữ là của Tr, mục đích để sử dụng nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. (Bút lục số: 01-04; 54-147; 160-167; 180-183).

Kết luận giám định số 136/KL-KTHS ngày 22/7/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tiền Giang xác định:

  • Các mẫu tinh thể trong suốt trong: 09 gói nylon màu trắng có viền màu đỏ một đầu được bóp kín (loại túi zip), 02 gói nylon màu trắng có viền màu đỏ sẫm một đầu, được bóp kín (loại túi zip) và 06 gói nylon màu trắng có viền màu xanh một đầu, được bóp kín (loại túi zip) để trong một bì thư (ký hiệu 1) được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Trần Vũ K, Phan Văn B, Nguyễn Thanh T, hình dấu vân tay màu đỏ ghi Nguyễn Văn Tr và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ AN THÁI TR-CÔNG AN HUYỆN CÁI BÈ-TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư, gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 6,7232 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M1.1 có khối lượng 4,2605 gam, mẫu kí hiệu M1.2 có khối lượng 0,9796 gam và mẫu kí hiệu M1.3 có khối lượng 1,4831 gam);
  • Các mẫu tinh thể trong suốt trong 02 gói nylon màu xanh được bóp kín (loại túi zip) để trong một bì thư (ký hiệu A) có các chữ ký ghi họ tên: Trần Vũ K, Võ Văn B, Nguyễn Văn S, hình dấu vân tay màu đỏ ghi: Nguyễn Văn Tr và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ Y-CÔNG AN HUYỆN CÁI BÈ-TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư, gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 9,9212 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M2.1 có khối lượng 4,9464 gam và mẫu kí hiệu M2.2 có khối lượng 4,9748 gam);
  • Các mẫu tinh thể trong suốt trong 02 gói nylon màu trắng được bóp kín (loại túi zip) để trong một bì thư (ký hiệu B) có các chữ ký ghi họ tên: Trần Vũ K, Võ Văn B, Nguyễn Văn S, hình dấu vân tay màu đỏ ghi: Nguyễn Văn Tr và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ Y-CÔNG AN HUYỆN CÁI BÈ-TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư, gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 10,1272 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M3.1 có khối lượng 5,0113 gam và mẫu kí hiệu M3.2 có khối lượng 5,1159 gam);
  • Các mẫu tinh thể trong suốt trong: 04 gói nylon màu trắng có viền màu đỏ một đầu, được bóp kín (loại túi zip); 02 gói nylon màu trắng (loại lớn) có viền màu trắng một đầu, được bóp kín (loại túi zip); 02 gói nylon màu trắng (loại nhỏ hơn) có

viền màu trắng một đầu, được bóp kín (loại túi zip) và 01 gói nylon màu trắng có viền màu xanh một đầu, được bóp kín (loại túi zip) để trong bì thư màu trắng được niêm phong (kí hiệu C) có các chữ ký ghi họ tên: Trần Vũ K, Võ Văn B, Nguyễn Văn S, hình dấu vân tay màu đỏ ghi: Nguyễn Văn Tr và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ Y-CÔNG AN HUYỆN CÁI BÈ-TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư, gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 45,4615 gam, loại Methamphetamine (trong đó: mẫu kí hiệu M4.1.1 có khối lượng 4,9707 gam, mẫu kí hiệu M4.1.2 có khối lượng 5,0179 gam, mẫu kí hiệu M4.1.3 có khối lượng 5,0805 gam, mẫu kí hiệu M4.1.4 có khối lượng 5,0866 gam, mẫu kí hiệu M4.2.1 có khối lượng 5,1550 gam, mẫu kí hiệu hiệu M4.2.2 có khối lượng 5,1166 gam, mẫu kí hiệu M4.3.1 có khối lượng 5,0147 gam, mẫu kí hiệu M4.3.2 có khối lượng 5,0870 gam và mẫu kí hiệu M4.4 có khối lượng 4,9325 gam).

Sau khi giám định, Cơ quan giám định hoàn lại: Các mẫu tinh thể trong suốt để trong 03 gói nylon màu trắng được dán kín có ký hiệu M1.1, M1.2 và M1.3 là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine có khối lượng lần lượt là 4,2080 gam, 0,9562 gam và 1,4595 gam và 17 vỏ gói nylon màu trắng đều đã bị cắt 01 đầu được niêm phong 01 bì thư kí hiệu số 136/1 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023; các mẫu tinh thể trong suốt để trong 02 gói nylon màu trắng được dán kín có ký hiệu M2.1, M2.2 là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine có khối lượng lần lượt là 4,8132 gam và 4,8184 gam; 01 miếng giấy; 01 sợi dây thun màu vàng và 02 vỏ gói nylon màu xanh đều đã bị cắt 01 đầu tất cả được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu vụ số 136/2 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023; các mẫu tinh thể trong suốt để trong 02 gói nylon màu trắng được dán kín có kí hiệu M3.1, M3.2 là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine có khối lượng lần lượt là 4,9177 gam và 5,0001 gam; 02 vỏ gói nylon màu trắng đều đã bị cắt 01 đầu tất cả được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu vụ số 136/3 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023; các mẫu tinh thể trong suốt để trong 09 gói nylon màu trắng được dán kín có kí hiệu M4.1.1, M4.1.2, M4.1.3, M4.1.4, M4.2.1, M4.2.2, M4.3.1, M4.3.2 và M4.4 là ma túy còn lại sau giám định loại Methamphetamine có khối lượng lần lượt là 4,8436 gam, 4.8941 gam, 4,9757 gam, 4,9731 gam, 5,0545 gam, 5,0254 gam, 4,8988 gam, 4,9783 gam và 4,8352 gam; 09 vỏ gói nylon màu trắng đều đã bị cắt 01 đầu tất cả được niêm phong trong 01 bì thư kí hiệu 136/4 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023. (Bút lục số: 42- 43).

Kết luận giám định số 4902/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 nón kết màu đen là dụng cụ để Nguyễn Văn Tr tàng trữ trái phép chất ma túy, qua giám định xác định trên nón kết này có phát hiện ADN người, phân tích ADN từ dấu vết này được kiểu gen trùng với kiểu gen của Nguyễn Văn Tr.(Bút lục số 50).

Quá trình xác minh, ban đầu bị cáo Nguyễn Văn Tr thừa nhận mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để bán cho các đối tượng nghiện. Tuy nhiên, ngay sau đó Tr không thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán lại, chỉ thừa nhận tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, Cơ quan điều tra đã thực hiện nhiều biện pháp nghiệp vụ để thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng không chứng minh được bị cáo Tr tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán lại cho đối tượng nghiện. Do đó, chỉ đủ căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn Văn Tr có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với người tên Sơn (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) bán ma túy và gửi 06 đoạn ống thuỷ tinh uốn cong dạng phễu, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Văn Tr, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Phạm Thị Bích H chủ sở hữu căn nhà ở ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, chị Hạnh cho Tr ở nhờ, việc Tr tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà chị Hạnh không biết nên không có căn cứ quy kết trách nhiệm hình sự.

Tại bản cáo trạng số 26/CT- VKSCB ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự và tội “ Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 1 điều 254 Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn Tr khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Tiền Giang truy tố đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố theo Bản cáo trạng số 26/CT- VKSCB ngày 27/3/2024. Xác định bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 3 điều 249, điểm b khoản 1 điều 254, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 và điều 55 Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 12 năm tù đến 13 tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 01 tù đến 02 tù về tội “ Sản xuất, tàng trữ mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” và tổng hợp hình phạt chung.

Vật chứng: áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, điều 46, 47 Bộ luật hình sự.

*Đối với

  • 08 miếng giấy màu bạc và 01 gói nylon cho vào bao thư niêm phong ký hiệu 2 có chữ ký xác nhận của Trần Vũ K, Phan Văn B, Nguyễn Thanh T dấu điểm chỉ của Nguyễn Văn Tr có đóng dấu tròn đỏ ghi Công an xã An Thái Tr, Công an huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;
  • 02 gói nylon dán kín;
  • 02 đoạn ống nhựa cắt nhọn 01 đầu, 01 đầu hàn kín;
  • 03 kéo kim loại;
  • 545 gói ny lon dán kín chưa qua sử dụng;
  • 01 quẹt ga đã qua sử dụng;
  • 01 cân tiểu ly
  • 01 cái nó kết màu đen;
  • 01 chiếc nón kết màu đen để trong phong bì đã được niêm phong;
  • 06 đoạn ống thủy tinh uốn cong dạng phiễu;
  • 01bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: Bình nhựa có gắn ống nhựa và đoạn ống thủy tinh uốn cong dạng phiễu;
  • 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 136/1 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023 có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh, Huỳnh Thị Diệu Hương, Trần Thanh Dũng, chữ kí ghi họ tên: Trần Vũ K và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M1.1) chứa 4,2080 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M1.1); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M1.2) chứa 0,9562 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M1.2); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M1.3) chứa 1,4595 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M1.3) và 17 vỏ gói nylon màu trắng đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;
  • 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 136/2 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023 có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh, Huỳnh Thị Diệu Hương, Trần Thanh Dũng, chữ kí ghi họ tên: Trần Vũ K và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.1) chứa 4,8132 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.1); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2.2) chứa 4,8184 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M2.2); 01 miếng giấy; 01 sợi dây thun màu vàng và 02 vỏ gói nylon màu xanh đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;
  • 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 136/3 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023 có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh, Huỳnh Thị Diệu Hương, Trần Thanh Dũng, chữ kí ghi họ tên: Trần Vũ K và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.1) chứa 4,9177 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.1); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3.2) chứa 5,0001 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M3.2) và 02 vỏ gói nylon màu trắng đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định;
  • 01 bì thư được niêm phong kí hiệu vụ số 136/4 ghi ngày 22 tháng 7 năm 2023 có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Thị Kiều Linh, Huỳnh Thị Diệu Hương, Trần Thanh Dũng, chữ kí ghi họ tên: Trần Vũ K và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.1.1) chứa 4,8436 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.1.1); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.1.2) chứa 4,8941 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.1.2); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.1.3) chứa 4,9757 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.1.3); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.1.4) chứa 4,9731 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.1.4); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.2.1) chứa 5,0545 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.2.1); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.2.2) chứa 5,0254 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.2.2); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.3.1) chứa 4,8988 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.3.1); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4.3.2) chứa 4,9783 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.3.2); 01 gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu 90M4.4) chứa 4,8352 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine (mẫu kí hiệu M4.4) và 09 vỏ gói nylon màu trắng đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia loại bàn phím.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được lưu giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè. Theo quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKSCB ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè. Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

3- Án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4- Bị cáo Nguyễn Văn Tr và chị Phạm Thị Bích H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Tiền Giang;
  • VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • VKSND huyện Cái Bè;
  • Công an huyện Cái Bè;
  • Chi cục THADS.H Cái Bè ;
  • Bị cáo;
  • Người liên quan;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Trương Việt Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép ma túy Ng V Tr
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger