Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HS-ST

Ngày: 05 - 6 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà:

Ông Nguyễn Duy Đạt

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Văn Phú Hiền

2.Bà Đoàn Thị Mến

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng-Thư ký TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Lý H, sinh năm 1997, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Trần Ngọc A; vợ, con: Không.

Tiền án:

Ngày 12/02/2020 bị TAND huyện Xuyên Mộc tuyên phạt 09 tháng tù (cho hưởng án treo) về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 18 tháng, nhưng đã chấp hành xong ngày 12/5/2021.

Ngày 01/6/2022 bị TAND huyện Xuyên Mộc tuyên phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong ngày 13/10/2022.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2023 (có mặt).

Tiền sự và nhân thân: Không.

2. Bị hại: Ông Dương Anh T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp K, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Sơn Hoài B, sinh năm 1987, trú tại ấp Đ, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. (không triệu tập)
  2. Neảng Sóc R, sinh năm 1992, trú tại ấp D, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. (Không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 15/11/2023 bị cáo Phạm Lý H điều khiển xe mô tô biển số 84B1-500.43 đi từ ấp P, xã H, huyện X đến khu vực ấp K, xã B, huyện X để trộm cắp tài sản.

Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo thấy nhà bị hại Dương Anh T cửa chính khóa ngoài, không có cửa cổng nên đã để xe mô tô bên hông nhà, lấy kìm mang theo bẻ khóa cửa vào lục tìm tài sản, sau đó H đi ra phía trước nhà lấy một bao bì để đựng, khi quay lại H lấy 01 tượng đất màu vàng hình con chó để trên tủ lạnh, 01 tượng đất hình Đô Rê Mon màu xanh để trên kệ đồ và bỏ cả hai bỏ vào bao.

Khi vừa lấy xong thấy bị hại T đi về, H bỏ bao đựng hai tượng đất lại trên giường rồi bỏ đi, nhưng bị hại T phát hiện đuổi theo bắt giữ, giao Cơ quan Công an.

Qua kiểm đếm, bên trong hai con tượng đất có tổng số tiền là 4.233.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 107/KL-HDDG ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Hội Đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện X. 01 tượng hình con chó là 40.000 đồng, 01 tượng hình Doremon là 40.000 đồng. Tổng giá trị là: 80.000 đồng.

Bị hại ông Dương Anh T trình bày: Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 15/11/2023 sau khi chở con đi học, khi trở về thấy cửa nhà bị hé mở; cùng lúc thấy bị cáo H từ trong nhà chạy ra, thấy vậy bị hại liền đuổi theo và khống chế, hô hoán, bắt và giao H cùng tài sản trộm cắp cho cơ quan Công an.

Hiện bị hại đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại toàn bộ tài sản bị H trộm cắp, không yêu cầu gì khác đối với bị cáo.

Vật chứng đang tạm giữ: 01 Kìm kim loại, dài 18,3cm, phần tay cầm được bọc nhựa màu đỏ, có dòng chữ GOODMAN là công cụ Phạm Lý H sử dụng để phạm tội Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

Vật chứng đã xử lý:

01 bức tượng hình con chó, màu vàng, chiều cao 27cm, bề rộng nhất 20,3cm; 01 bức tượng hình nhân vật Doremon, màu xanh, chiều cao 21cm, bề rộng nhất 14cm; 01 bao bì màu trắng có chiều dài 70cm, chiều rộng 48cm, trên bao bì có dòng chữ DNTN THIÊN PHÚ PHƯỢNG, gạo cao cấp thơm lài, khối lượng tịnh 25kg; số tiền mặt 4.233.000 đồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh, xác định là tài sản của ông Dương Anh T nên đã trả lại cho ông T.

01 xe mô tô biển số 84B1-500.43, nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu sơn xanh xám, số máy JC76E0132717, số khung 761XGZ088484; Cơ quan Cảnh sát điều tra xác minh và xác định là tài sản của ông Sơn Hoài B1 và bà Neảng Sóc R. Xe do ông B đứng tên, ông B đang đi chấp hành án, nhưng do quen biết nên ngày 15/11/2023 bà R cho H mượn để đi làm, bà R không biết H điều khiển xe này để đi trộm cắp tài sản, do đó đã trả lại cho chị N Sóc Ri.

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSXM ngày 03-4-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố Phạm Lý H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện VKSND huyện Xuyên Mộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Lý H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Lý H từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 và điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy 01 Kìm kim loại, dài 18,3cm, phần tay cầm được bọc nhựa màu đỏ, có dòng chữ GOODMAN.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét do bị hại không có yêu cầu.

-Bị cáo không có khiếu nại, tố cáo về hành vi và quyết định trong quá trình điều tra, truy tố, khởi tố, xét xử; bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin được hưởng hình phạt 02 năm tù để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về người tham gia tố tụng: Bị hại ông Dương Anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và đề nghị giải quyết vắng mặt; bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị tiếp tục xét xử, khi cần thiết thì công bố lời khai của họ. Do đó HĐXX xét xử vắng mặt ông T;

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của những người tham gia tố tụng trong vụ án, xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/11/2023 bị cáo đã lén lút vào nhà bị hại Dương Anh T trộm cắp 01 tượng đất màu vàng hình con chó để đựng tiền, 01 tượng đất hình Đô Rê Mon màu xanh để đựng tiền, bên trong có số tiền 4.233.000 đồng và trị giá 02 tượng đất là 80.000 đồng. Bị cáo mới chấp hành án xong ngày 12/5/2021 và ngày 13/10/2022, tức “đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý”. Do đó HĐXX đủ căn cứ kết luận Cáo trạng số 38/CT-VKSXM ngày 03-4-2024 của VKSND huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Phạm Lý H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Mặt khác bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt của 02 bản án về cùng tội danh, lẽ ra bị cáo cần lấy đó làm bài học cho mình, chí thú lao động để hoàn thiện bản thân và nêu gương nhưng vì tư lợi cá nhân bị cáo tiếp tục lợi dụng sơ hở của người dân, lén lút trộm cắp tài sản để sử dụng, kích thích lòng tham và lối sống lười lao động cho người khác, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thường pháp luật.

Vì vậy, cần có hình phạt tù có thời hạn tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được giáo dục, học tập và phấn đấu để trở thành người tốt hơn, biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng, bị cáo có nhân thân xấu; do đó khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc đến nhân thân và ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội không có đồng phạm; tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”; quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h và s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về áp dụng hình phạt: HĐXX xét thấy việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết; tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với: 01 bức tượng hình con chó, màu vàng, chiều cao 27cm, bề rộng nhất 20,3cm: 01 bức tượng hình nhân vật Doremon, màu xanh, chiều cao 21cm, bề rộng nhất 14cm; 01 bao bì màu trắng có chiều dài 70cm, chiều rộng 48cm, trên bao bì có dòng chữ DNTN THIÊN PHÚ PHƯỢNG, gạo cao cấp thơm lài, khối lượng tịnh 25kg; số tiền mặt 4.233.000 đồng là tài sản của anh Dương Anh T và 01 xe mô tô biển số 84B1-500.43, nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE, màu sơn xanh xám, số máy JC76E0132717, số khung 761XGZ088484; là tài sản của ông Sơn Hoài B và bà Neảng Sóc R. Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã giao trả lại tài sản cho chủ sở sữu là phù hợp điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS và Điều 48 BLHS.

[6.1] Đối với: 01 Kìm kim loại, dài 18,3cm, phần tay cầm được bọc nhựa màu đỏ, có dòng chữ GOODMAN là công cụ Phạm Lý H sử dụng để phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, HĐXX xác định đây là đây là công cụ, phương tiện phạm tôi nên quyết định tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét quyết định.

[8] Về hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về vấn đề khác: Đối với ông Sơn Hoài B và bà Neảng Sóc R là chủ sở hữu xe mô tô biển số 84B1-500.43; kết quả xác minh thể hiện ông B đang đi chấp hành án, bà R do quen biết nên cho bị cáo mượn xe để đi làm, không biết bị cáo dùng xe này để phạm tôi và đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Do đó HĐXX không triệu tập ông B và bà R tham gia phiên tòa sơ thẩm.

[10] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy về điều luật, tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, cũng như phần lớn các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung nên HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên, quá trình khởi tố, truy tố đều xác định bị hại là ông Dương Anh T, lời khai ông T tại hồ sơ không thể hiện có bãi nại cho bị cáo; vì vậy không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này theo khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.

[11] Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, bị hại và VKSND được quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTHS.

Vì các lẽ trên.

Căn cứ vào: Các Điều 268, 269, 298, 299 của Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Lý H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 32, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Phạm Lý H 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự;

    Tịch thu, tiêu hủy 01 Kìm kim loại, dài 18,3cm, phần tay cầm được bọc nhựa màu đỏ, có dòng chữ GOODMAN.

    (Vật chứng nêu trên được Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 44/BB ngày 27/5/2024);

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm Lý H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo và VKSND cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/6/2024); bị hại và các đương sự khác không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự 2008;

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện Xuyên Mộc;
  • -VKSND tỉnh BRVT;
  • -TAND tỉnh BRVT;
  • -CA huyện Xuyên Mộc;
  • -Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • -Phòng PV 27 CA tỉnh BRVT ;
  • -Chi Cục THADS huyện Xuyên Mộc;
  • -UBND xã Hòa Hiệp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 44/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger