TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 29 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thiệu và bà Trịnh Thị Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
BÙI VĂN T, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1991 tại L - Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT/Chỗ ở: xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M và bà Bùi Thị D; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024, tạm giam từ ngày 05/7/2024. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác (Người chứng kiến): Ông Quách Trọng K, sinh năm 1966. Trú tại: Xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
Ông Quách Văn L, sinh năm 1988. Trú tại: Xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 26/6/2024, Bùi Văn T đang đi bộ tại đoạn đường thuộc xóm N, xã X, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì bị Công an huyện L phát hiện bắt quả tang và thu giữ bên trong túi quần Bùi Văn T đang mặc 03 gói giấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trăng. Khám xét nơi ở của Bùi Văn T phát hiện và thu giữ tại gường ngủ của Bùi Văn T 01 chiếc dao lam có dòng chữ "CROMA" cũ đã qua sử dụng. Ba gói giấy chứa chất bột, bị cáo Bùi Văn T khai là chất ma túy mua được của một người đàn ông tại huyện T, tỉnh Hòa Bình với giá 1.500.000 (Một triệu, năm trăm nghìn) đồng về chia nhỏ thành 03 gói với mục đích để bán lại cho những người nghiện khác kiếm lời cho bản thân. Chiếc dao lam thu giữ, bị cáo Bùi Văn T khai là dùng để chia nhỏ chất ma túy.
Tang vật thu giữ được tại giai đoạn điều tra và quá trình xử lý vật chứng: Vật chứng gồm toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn T; 01 chiếc dao lam có dòng chữ "CROMA". Các vật chứng được niêm phong theo quy định của pháp luật hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chờ xử lý.
Tại Kết luận giám định số 337/KL-KTHS, ngày 03/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận: Các chất bột dạng cục màu trắng trong ba gói giấy thu giữ từ Bùi Văn T, được ký hiệu là A1, A2 và A3 là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng là 0,36g (Không phẩy ba mươi sáu gam).
Tại Bản Cáo trạng số 44/CT-VKS-LS ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại huyện T, tỉnh Hòa Bình, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân dạng, căn cước nên Cáo trạng không đề cập xử lý. Khi Cơ quan điều tra xác minh làm rõ, có căn cứ sẽ được xử lý sau.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh, điều khoản luật áp dụng đối với bị cáo. Xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo; là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 30 đến 33 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo do bị cáo là người không có điều kiện về kinh tế. Về vật chứng của vụ án: đề nghị tịch thu, tiêu hủy các phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định, chứa dao lam là công cụ phạm tội.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng phản ánh; không kêu oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, của Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên xác nhận là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng.
- [2] Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Ngày 26/6/2024 bị cáo Bùi Văn T đã có hành vi dùng số tiền 1.500.000 đồng mua ma túy tại huyện T, tỉnh Hòa Bình về chia nhỏ thành 03 gói với mục đích để bán lại cho những người nghiện khác kiếm lợi nhuận. Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Số lượng ma túy bị cáo mua bán là loại Heroine với khối lượng dưới 05 gam (0,36 gam). Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh, điều khoản luật áp dụng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội; đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhận thức xã hội, có hiểu biết pháp luật, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại lười lao động, muốn kiếm tiền nhanh chóng bằng con đường bất hợp pháp để thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Ma túy là hiểm họa của xã hội, là nguyên nhân, nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, biết Nhà nước cấm mua bán các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện vì lợi ích bản thân mà gieo rắc tác hại của ma túy cho nhiều người khác. Do vậy, cần áp dụng đối với bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích và để răn đe, phòng ngừa chung.
- [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ là những tình tiết Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người có thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- [6] Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc dao lam có dòng chữ CROMA là công cụ phạm tội; đối với mẫu vật Heroine hoàn lại sau giám định của Phòng K1 - Công an tỉnh H là các chất ma túy, là vật Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- [7] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính ngày tạm giữ 26/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật - Công an tỉnh H bên trong chứa mẫu vật ma túy còn lại sau giám định; 01 phong bì niêm phong của Phòng Kỹ thuật - Công an tỉnh H bên trong chứa 01 chiếc dao lam có dòng chữ CRMOMA.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK 000051 ngày 06/8/2024).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Cao Sơn |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T đã có hành vi mua 0,36g Heroine để bán lại kiếm lợi nhuận.
